Để kinh tế tư nhân thực sự là động lực quan trọng nhất của nền kinh tế
Nghị quyết 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân là một văn kiện quan trọng, đánh dấu bước ngoặt trong tư duy lãnh đạo của Đảng đối với khu vực kinh tế này. Nghị quyết không chỉ tổng kết thực tiễn mà còn định hướng chiến lược dài hạn, nhằm hiện thực hóa mục tiêu xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc.
Dân tộc ta có truyền thông trọng nông. Từ buổi bình minh lịch sử, dân tộc Việt Nam đã gắn bó với nền văn minh lúa nước – một loại hình sản xuất nông nghiệp đặc trưng ở vùng đồng bằng sông Hồng và sông Mã. Khác với các nền văn minh du mục hay trọng thương ở phương Tây và một phần phương Đông, người Việt cổ đại coi nông nghiệp là nguồn sống chính, là cơ sở để dựng nước và giữ nước. Truyền thuyết về Thần Nông (người dạy dân cày cấy, trồng trọt) đã được lưu truyền như một biểu tượng thiêng liêng, nhấn mạnh vai trò của nông nghiệp trong việc mang lại sự no ấm, ổn định cho cộng đồng.
Trong suốt các triều đại phong kiến, từ nhà Lý, Trần, Lê đến nhà Nguyễn, các bậc vua chúa luôn thực thi chính sách trọng nông ức thương (trọng nông, kìm hãm thương mại). Các vua thường tự mình cày ruộng đầu năm (lễ tịch điền), ban hành chính sách khuyến nông như khai hoang, đắp đê, xây dựng hệ thống thủy lợi (đê sông Hồng, sông Đáy), giảm thuế cho nông dân trong năm mất mùa, cấm đầu cơ tích trữ lương thực. Ví dụ, các luật thời nhà Lý, nhà Lê… đều có nhiều điều khoản bảo vệ nông dân, ruộng đất công điền, coi nông nghiệp là "nghề gốc" của dân sinh, đồng thời cấm giết hại trâu bò để bảo vệ hoạt động sản xuất nông nghiệp.
Truyền thống trọng nông gắn hoạt động sản xuấtnông nghiệp với tính làng xã rất cao. Chính từ đó, các loại hình kinh tế khác cũng như hoạt động kinh tế tư nhân không được đề cao. Chính nhà bác học Lê Quý Đôn ở thế kỷ XVIII cũng chỉ xem hoạt động thương nghiệp – một hình thức của kinh tế tư nhân, làm đời sống kinh tế sinh động chứ không trở thành động lực phát triển của nền kinh tế, với câu nổi tiếng: “Phi thương bất hoạt”.
Đến giai đoạn đất nước ta bắt đầu tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội, kinh tế tư nhân (cũng như kinh tế tư bản) bị hạn chế tối đa bởi quan niệm nặng nề về “bóc lột”. Khi kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể đượcđề cao thì kinh tế tư nhân không được xem là động lực phát triển, thậm chí còn bị cho là trái với định hướngxã hội chủ nghĩa cả về mặt lý luận lẫn mặt đạo đức.Nhưng đến giai đoạn đổi mới, Đảng và Nhà nước ta dần dần xem trọng kinh tế tư nhân và có nhiều chủ trương thúc đẩy phát triển loại hình kinh tế này. Và Nghị quyết 68-NQ/TW có thể coi là văn kiện của Đảng“cởi trói” hoàn toàn cho kinh tế tư nhân để tạo điều kiện cho nó phát triển mạnh mẽ.
Trước hết, ý nghĩa thực tiễn của chủ trương phát triển kinh tế tư nhân theo Nghị quyết 68-NQ/TW thể hiện rõ nét ở khía cạnh kinh tế. Nghị quyết khẳng định kinh tế tư nhân là lực lượng nòng cốt, đóng góp khoảng 40-45% GDP hiện nay, tạo việc làm cho hàng chục triệu lao động. Trong bối cảnh hậu đại dịch COVID-19 và biến động kinh tế toàn cầu, chủ trương này giúp kích thích tăng trưởng, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Ví dụ, các doanh nghiệp tư nhân như Vingroup hay Viettel đã dẫn dắt ngành công nghệ cao, xuất khẩu sản phẩm ra thế giới, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Theo Nghị quyết, mục tiêu đến năm 2030 đạt 2 triệu doanh nghiệp hoạt động, với 20 doanh nghiệp trên 1.000 dân, và đến năm 2045 đóng góp trên 60% GDP, không chỉ là con số mà còn là nền tảng để Việt Nam trở thành nước thu nhập cao. Điều này có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc vì nó giải quyết vấn đề cốt lõi: Chuyển đổi từ tăng trưởng dựa vào đầu tư công sang dựa vào hiệu quả và sáng tạo của khu vực tư nhân, giúp nền kinh tế chống chịu tốt hơn với các cú sốc bên ngoài như lạm phát hay suy thoái toàn cầu.
Bên cạnh đó, ý nghĩa xã hội của chủ trương này hết sức sâu sắc. Kinh tế tư nhân không chỉ tạo việc làm mà còn góp phần giảm nghèo, thúc đẩy bình đẳng xã hội. Nghị quyết nhấn mạnh phát triển kinh tế tư nhân phải gắn với đạo đức kinh doanh, trách nhiệm xã hội, bảo vệ môi trường. Trong thực tiễn, các doanh nghiệp tư nhân đã tham gia tích cực vào các chương trình an sinh xã hội, như hỗ trợ nông dân chuyển đổi số hóa nông nghiệp hoặc đầu tư vào giáo dục, y tế. Điều này giúp thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, đặc biệt ở khu vực nông thôn và miền núi. Hơn nữa, chủ trương khuyến khích doanh nhân – lực lượng trực tiếp tham gia phát triển kinh tế – xã hội, tạo động lực cho thế hệ trẻ khởi nghiệp. Trong bối cảnh dân số vàng đang dần chuyển sang già hóa, việc thúc đẩy kinh tế tư nhân giúp khai thác tối đa nguồn nhân lực trẻ, sáng tạo, góp phần xây dựng xã hội công bằng, dân chủ.

Về mặt chính trị, Nghị quyết 68-NQ/TW mang ý nghĩa sâu sắc trong việc đổi mới tư duy lãnh đạo. Nó khẳng định quyền tự do kinh doanh, quyền sở hữu tài sản, cạnh tranh bình đẳng, xóa bỏ rào cản nhận thức cũ kỹ về kinh tế tư nhân. Đây là "bản tuyên ngôn tự do" cho doanh nhân, như nhiều chuyên gia nhận định, thể hiện Đảng và Nhà nước tin tưởng, đồng hành cùng khu vực này. Thực tiễn cho thấy, sau khi ban hành, Nghị quyết đã tạo "cú huých" thể chế, khuyến khích đầu tư nước ngoài và nội địa tăng vọt. Ví dụ, năm 2025, số doanh nghiệp đăng ký mới tăng hơn 15% so với năm trước, phần lớn nhờ chính sách hỗ trợ từ Nghị quyết. Ý nghĩa này còn lan tỏa đến hội nhập quốc tế, giúp Việt Nam thực hiện các cam kết CPTPP, EVFTA một cách hiệu quả, nâng cao vị thế trên trường quốc tế.
Tuy nhiên, để chủ trương này phát huy tối đa ý nghĩa thực tiễn, cần đề xuất các giải pháp cụ thể thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay, khi kinh tế toàn cầu đang phục hồi sau suy thoái, đối mặt với biến đổi khí hậu và cách mạng công nghiệp 4.0.
Giải pháp đầu tiên là hoàn thiện thể chế và pháp luật. Nhà nước cần nhanh chóng ban hành các văn bản dưới luật để cụ thể hóa Nghị quyết 68, như sửa đổi Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư để giảm thủ tục hành chính, minh bạch hóa quy trình. Trong bối cảnh số hóa, áp dụng nền tảng chính phủ điện tử để doanh nghiệp đăng ký kinh doanh chỉ trong 1 ngày, giảm chi phí tuân thủ. Đồng thời, tăng cường bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, chống tham nhũng để tạo môi trường kinh doanh lành mạnh. Hay các chính sách về thuế cần “khoan sức doanh nghiệp” về mặt nguồn lực và minh bạch, giản lược về mặt thủ tục.
Thứ hai, hỗ trợ tài chính và tiếp cận vốn. Kinh tế tư nhân thường gặp khó khăn về vốn, đặc biệt doanh nghiệp nhỏ và vừa. Giải pháp là mở rộng quỹ bảo lãnh tín dụng, giảm lãi suất cho vay đối với lĩnh vực xanh, công nghệ cao. Ngân hàng Nhà nước có thể hợp tác với các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Ngân hàng Thế giới (World Bank) để cung cấp gói tín dụng ưu đãi. Trong bối cảnh lạm phát kiểm soát ở mức 4-5%, cần khuyến khích đầu tư mạo hiểm (venture capital) để hỗ trợ startup, giúp kinh tế tư nhân tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu.
Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực và đổi mới công nghệ. Đào tạo lao động chất lượng cao là chìa khóa. Chính phủ nên hợp tác với doanh nghiệp tư nhân để xây dựng chương trình đào tạo nghề, tích hợp AI, blockchain vào giáo dục đại học. Hoạt động đào tạo cần gắn với nhu cầu của xã hội và bám sát xu hướngvận động của nền kinh tế. Trong bối cảnh hiện nay, với cuộc cách mạng số, cần ưu tiên hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi số, như chương trình "Doanh nghiệp 4.0" với trợ cấp công nghệ. Đồng thời, khuyến khích nghiên cứu phát triển (R&D) qua quỹ đầu tư nhà nước – tư nhân.
Thứ tư, thúc đẩy hội nhập và bền vững. Để đối phó với biến đổi khí hậu và các vấn đề an ninh phi truyền thông khác, kinh tế tư nhân cần được khuyến khích đầu tư vào năng lượng tái tạo, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn. Giải pháp là xây dựng khung chính sách thuế ưu đãi cho doanh nghiệp thân thiện môi trường, đồng thời hỗ trợ xuất khẩu qua các hiệp định thương mại tự do. Trong bối cảnh căng thẳng địa chính trị, các xung đột chính trị và vũ trang, cần đa dạng hóa thị trường, giảm phụ thuộc vào một số đối tác lớn.
Cuối cùng, tăng cường vai trò của các tổ chức củadoanh nghiệp như Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và các hội/hiệp hội doanh nghiệp để giám sát thực thi chính sách, phản hồi kịp thời, cũng như có thể hỗ trợ nhiều hơn cho các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp vừa và nhỏ. Việc thực hiện các giải pháp này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa Đảng, Nhà nước, doanh nghiệp và nhân dân, đảm bảo Nghị quyết 68-NQ/TW không chỉ là văn bản mà trở thành động lực thực tiễn cho sự phát triển.
Quan điểm chỉ đạo đầu tiên trong Nghị quyết 68-NQ/TW là: “Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, là lực lượng tiên phong thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm, nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia, công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng xanh, tuần hoàn, bền vững; cùng với kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân giữ vai trò nòng cốt để xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất, hiệu quả, đưa đất nước thoát khỏi nguy cơ tụt hậu, vươn lên phát triển thịnh vượng”. Đây có thể coi là định hướng quan trọng bậc nhất để có thể thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân trong kỷ nguyên phát triển mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Khi triển khai đồng bộ các giải pháp, chủ trương phát triển kinh tế tư nhân theo Nghị quyết 68-NQ/TW sẽ có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, là nền tảng cho sự thịnh vượng quốc gia, góp phần thực hiện khát vọng Việt Nam hùng cường.