Chuyển mạnh từ thu hút FDI sang phát triển hệ sinh thái kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tư duy phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, từ mục tiêu thu hút vốn đơn thuần sang xây dựng hệ sinh thái đầu tư hiện đại, chất lượng và bền vững. Theo đó, Việt Nam hướng đến trở thành điểm đến cạnh tranh của các dòng vốn trung và dài hạn có hàm lượng công nghệ, đổi mới sáng tạo và giá trị gia tăng cao.
Phát biểu tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW sáng 30/6, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc cho biết, sau gần 40 năm mở cửa thu hút đầu tư nước ngoài, Việt Nam đã huy động gần 550 tỷ USD vốn đăng ký với hơn 46.000 dự án còn hiệu lực, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế, xuất khẩu, tạo việc làm và hội nhập quốc tế.
Tuy nhiên, mô hình phát triển dựa chủ yếu vào thu hút FDI cũng bộc lộ nhiều hạn chế như mức độ lan tỏa công nghệ còn thấp, liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước chưa chặt chẽ, công nghiệp hỗ trợ phát triển chậm, trong khi bối cảnh cạnh tranh toàn cầu, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và tái cấu trúc chuỗi cung ứng đang đặt ra những yêu cầu mới.
Theo Phó Thủ tướng Thường trực, trong giai đoạn phát triển mới, mục tiêu không còn dừng ở việc thu hút nhiều vốn hơn mà phải hướng đến các dòng vốn có chất lượng cao, công nghệ tiên tiến, năng lực quản trị hiện đại và khả năng tạo giá trị gia tăng lớn cho nền kinh tế. Đây cũng là lý do Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thay vì chỉ tập trung vào chính sách thu hút FDI như trước.

Sáu chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển
Điểm cốt lõi của Nghị quyết là sáu chuyển đổi mang tính chiến lược trong tư duy phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Trước hết, Việt Nam chuyển từ tư duy thu hút đầu tư nước ngoài sang phát triển toàn diện khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, bao gồm cả đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp, thị trường vốn và các thiết chế tài chính quốc tế. Khu vực này được xác định là một bộ phận hữu cơ của nền kinh tế, phát triển đồng hành với doanh nghiệp trong nước.
Song song đó là chuyển trọng tâm từ quy mô vốn sang chất lượng và hiệu quả của dòng vốn; từ ưu đãi theo đầu vào sang ưu đãi dựa trên kết quả thực hiện các cam kết về chuyển giao công nghệ, nghiên cứu - phát triển, đào tạo nhân lực, chuyển đổi xanh và liên kết với doanh nghiệp Việt Nam.
Một điểm mới đáng chú ý khác là phát triển đồng bộ hệ sinh thái các dòng vốn quốc tế, trong đó đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp, thị trường vốn, trung tâm tài chính quốc tế và các không gian phát triển mới như khu thương mại tự do, khu kinh tế đặc thù được đặt trong một chỉnh thể thống nhất nhằm nâng cao hiệu quả huy động và phân bổ nguồn lực.
Nghị quyết cũng chuyển vai trò của Nhà nước từ quản lý sang kiến tạo môi trường đầu tư, tập trung hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng hạ tầng, nguồn nhân lực và năng lực đổi mới sáng tạo. Đồng thời, thay vì cạnh tranh thu hút đầu tư giữa các địa phương, sẽ tăng cường điều phối ở tầm quốc gia, thúc đẩy liên kết vùng và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực.

Mục tiêu đến năm 2030 thu hút 200-300 tỷ USD vốn FDI đăng ký
Theo Nghị quyết số 10-NQ/TW, Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030 thu hút từ 200-300 tỷ USD vốn FDI đăng ký, trong đó vốn thực hiện đạt 150-200 tỷ USD.
Đáng chú ý, chất lượng dòng vốn được đặt lên hàng đầu khi khoảng 75% vốn đăng ký mới được kỳ vọng đến từ các nền kinh tế phát triển có lợi thế về công nghệ và quản trị hiện đại.
Cùng với đó, tỷ lệ nội địa hóa trong các ngành công nghiệp chủ lực dự kiến đạt 40-50%; khoảng 10.000 doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; thị trường chứng khoán được nâng hạng lên thị trường mới nổi trước năm 2030 nhằm mở rộng khả năng thu hút vốn đầu tư gián tiếp.
Tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam hướng tới xây dựng khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển hiệu quả, gắn kết chặt chẽ với khu vực kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân, đưa đất nước trở thành trung tâm sản xuất, dịch vụ, đổi mới sáng tạo và điều hành khu vực của nhiều tập đoàn đa quốc gia.
Bảy nhóm giải pháp hiện thực hóa Nghị quyết
Để đạt được các mục tiêu trên, Nghị quyết xác định bảy nhóm nhiệm vụ trọng tâm, bao gồm đổi mới tư duy phát triển; hoàn thiện thể chế và chính sách ưu đãi; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và hạ tầng chiến lược; thu hút đầu tư thế hệ mới; nâng cao khả năng lan tỏa của khu vực FDI đối với doanh nghiệp trong nước; phát triển thị trường vốn, trung tâm tài chính quốc tế và các thiết chế tài chính hiện đại; đồng thời tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, chuyển đổi số trong quản lý đầu tư và nâng cao năng lực điều phối quốc gia.
Theo Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc, thành công của Nghị quyết sẽ không còn được đánh giá bằng số lượng dự án hay quy mô vốn đăng ký, mà bằng chất lượng dòng vốn, trình độ công nghệ, mức độ đổi mới sáng tạo, khả năng liên kết với doanh nghiệp Việt Nam và những đóng góp thực chất đối với tăng trưởng nhanh, bền vững của nền kinh tế.
Ông nhấn mạnh, để Nghị quyết nhanh chóng đi vào cuộc sống, cần sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và các nhà đầu tư trong và ngoài nước, nhằm phát huy hiệu quả nguồn lực quốc tế cùng với nội lực quốc gia, tạo dựng những năng lực phát triển mới trong giai đoạn tới.