Sơn mài thay đổi để đáp ứng thị trường
Sự mở rộng của thị trường trong những năm gần đây đã tạo ra một không gian phát triển mới cho sơn mài. Tuy nhiên, khả năng thích ứng của người làm nghề chưa kịp nhu cầu.
Chuỗi giá trị của sơn mài vẫn còn rời rạc
Họa sĩ Nguyễn Xuân Tiên - Chủ tịch Hội Mỹ thuật TP.HCM cho rằng, điểm nghẽn lớn nhất của sơn mài hiện nay nằm ở cấu trúc sản xuất. Phần lớn cơ sở vẫn hoạt động theo mô hình nhỏ lẻ, phụ thuộc vào tay nghề cá nhân, khó tiêu chuẩn hóa. Một sản phẩm có thể mất nhiều tuần, thậm chí nhiều tháng để hoàn thiện. Điều này khiến sơn mài khó đáp ứng các đơn hàng lớn hoặc yêu cầu khắt khe từ thị trường quốc tế.

Theo họa sĩ Nguyễn Văn Quý - Phó Chủ nhiệm CLB sơn mài Hội mỹ thuật TP.HCM, Phó Chủ tịch Hiệp hội Sơn mài và Điêu Khắc TP.HCM, vấn đề cốt lõi nằm ở thiếu năng lực tham gia thị trường một cách bền vững, cụ thể thiếu vắng một hệ tiêu chuẩn chung từ vật liệu, quy trình đến hoàn thiện đang làm giảm khả năng đồng nhất của sản phẩm. Điều này gây bất lợi khi sơn mài bước vào các phân khúc đòi hỏi quy mô và độ ổn định cao.
Bên cạnh đó, chuỗi giá trị của sơn mài vẫn còn rời rạc. Người làm thị trường lại không hiểu kỹ thuật. Nhà thiết kế thì thiếu môi trường để thử nghiệm. Sự đứt gãy này khiến nhiều sản phẩm hoặc khó thương mại hóa, hoặc đánh mất bản sắc khi đưa ra thị trường.
Ở góc độ sáng tạo, họa sĩ Đỗ Hiếu - Giảng viên khoa Mỹ thuật cho rằng sơn mài đang thiếu ngôn ngữ thiết kế mới. Có chất liệu mạnh nhưng chưa có tư duy thiết kế tương xứng, nên nhiều sản phẩm vẫn lặp lại chính mình. Điều này khiến sơn mài khó tiếp cận các không gian sống hiện đại nếu không có sự đổi mới.
Theo các thống kê ngành thủ công mỹ nghệ, sản phẩm sơn mài Việt Nam hiện đã có mặt tại nhiều thị trường lớn như Mỹ, EU, Nhật Bản và ASEAN, cho thấy dư địa tiêu thụ quốc tế khá ổn định. Riêng tại TP.HCM, có hàng chục cơ sở sản xuất và doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sơn mài, chủ yếu làm hàng nội thất, quà tặng và trang trí cao cấp.
Đáng chú ý, ngành sơn mài nói chung có đặc điểm sử dụng nhiều lao động thủ công, với quy trình sản xuất kéo dài qua 12-15 lớp sơn và nhiều công đoạn phức tạp, do đó vẫn tạo việc làm ổn định cho một lượng lớn lao động tay nghề cao. Ở góc độ thị trường, mỗi năm Việt Nam xuất khẩu hàng trăm container sản phẩm sơn mài và thủ công mỹ nghệ, phản ánh quy mô không nhỏ của ngành này trong cơ cấu xuất khẩu phi công nghiệp.
Kiến nghị: Tạo nền tảng để nâng cao năng lực đáp ứng
Để theo kịp thị trường, theo các chuyên gia trong ngành, sơn mài cần có các chương trình hỗ trợ chuyên sâu hơn, từ nghiên cứu vật liệu, cải tiến quy trình đến phát triển sản phẩm. Bên cạnh đó là sự thúc đẩy kết nối giữa nghệ nhân, họa sĩ và nhà thiết kế. Các chương trình hợp tác sáng tạo, lưu trú nghệ thuật hay dự án thiết kế ứng dụng cần được tổ chức bài bản và liên tục.

Kế nữa, cần đầu tư cho đào tạo nguồn nhân lực liên ngành và xây dựng hệ thống không gian sáng tạo và trưng bày chuyên biệt cho sơn mài. Việc phát triển các trung tâm sáng tạo, không gian trải nghiệm, hoặc bảo tàng chuyên đề về sơn mài sẽ là nền tảng quan trọng để mở rộng thị trường.
Việc đẩy mạnh xúc tiến thương mại và xây dựng thương hiệu chung cho sơn mài Việt Nam cũng cần quan tâm. Theo họa sĩ Phan Trọng Văn nhận định, hiện nay sơn mài vẫn “đi ra thế giới theo từng cá nhân”, thiếu một hình ảnh chung đủ mạnh.
Cuối cùng, cần gắn kết sơn mài với du lịch và các nền tảng số, từ đó mở rộng khả năng tiếp cận công chúng và thị trường quốc tế.
Theo họa sĩ Nguyễn Xuân Tiên, phát triển sơn mài không chỉ là câu chuyện bảo tồn, mà là câu chuyện của tương lai. Chỉ khi tham gia được vào đời sống đương đại và thị trường, di sản mới thực sự sống.