6 trường hợp người lao động được xác định là đang đóng bảo hiểm thất nghiệp
Từ ngày 1/1/2026, việc xác định người lao động đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp được thực hiện theo Luật Việc làm năm 2025 và Nghị định số 374/2025/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Việc làm về bảo hiểm thất nghiệp.
Quy định mới tiếp tục kế thừa các nguyên tắc hiện hành, đồng thời làm rõ và bổ sung những trường hợp cụ thể nhằm bảo đảm quyền lợi của người lao động trong thực tiễn.
Theo Nghị định 374/2025/NĐ-CP, người lao động được xác định là đang đóng bảo hiểm thất nghiệp trước hết bao gồm trường hợp đã đóng bảo hiểm thất nghiệp trong chính tháng chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc theo quy định pháp luật và được cơ quan bảo hiểm xã hội xác nhận trên sổ bảo hiểm xã hội. Trường hợp thứ hai là người lao động đã đóng bảo hiểm thất nghiệp của tháng liền kề trước tháng chấm dứt hợp đồng hoặc chấm dứt làm việc, cũng được cơ quan bảo hiểm xã hội xác nhận.
Quy định mới tiếp tục công nhận các trường hợp người lao động không trực tiếp đóng trong tháng chấm dứt hợp đồng nhưng vẫn được tính là đang tham gia. Cụ thể, người lao động có tháng liền kề trước hoặc chính tháng chấm dứt hợp đồng mà nghỉ việc do ốm đau hoặc thai sản từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng, không hưởng tiền lương tại đơn vị và được cơ quan bảo hiểm xã hội xác nhận, vẫn được xác định là đang đóng bảo hiểm thất nghiệp.

Tương tự, người lao động có tháng liền kề trước hoặc tháng chấm dứt hợp đồng mà nghỉ việc không hưởng lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng tại đơn vị, hoặc tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng, đều được tính là đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp nếu có xác nhận của cơ quan bảo hiểm xã hội.
Điểm mới đáng chú ý của Nghị định 374/2025/NĐ-CP là bổ sung và nhấn mạnh trường hợp người lao động nghỉ việc tại đơn vị sử dụng lao động không còn khả năng đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc. Quy định này được đánh giá là đã khép kín “khoảng trống pháp lý” trong bối cảnh một số doanh nghiệp ngừng hoạt động, phá sản hoặc mất khả năng thanh toán, qua đó bảo đảm người lao động vẫn được xác định là đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp để xem xét giải quyết chế độ khi đủ điều kiện.
Như vậy, theo quy định mới, có sáu nhóm trường hợp người lao động được xác định là đang đóng bảo hiểm thất nghiệp, bao quát cả các tình huống chấm dứt hợp đồng thông thường lẫn các trường hợp đặc thù phát sinh trong thực tiễn quan hệ lao động.
Về mức đóng bảo hiểm thất nghiệp, Nghị định 374/2025/NĐ-CP tiếp tục duy trì mức đóng bằng 1% tiền lương tháng đối với người lao động và 1% quỹ tiền lương tháng đối với người sử dụng lao động, đồng thời phân định rõ trách nhiệm nguồn đóng theo từng loại hình đơn vị.
Đối với các cơ quan, đơn vị được ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ hoặc một phần kinh phí hoạt động thường xuyên, phần đóng bảo hiểm thất nghiệp tương ứng do ngân sách nhà nước bảo đảm và được bố trí trong dự toán chi thường xuyên hằng năm. Với doanh nghiệp, đơn vị sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, khoản đóng bảo hiểm thất nghiệp được hạch toán vào chi phí sản xuất, kinh doanh; các cơ quan, tổ chức khác sử dụng nguồn kinh phí hoạt động để thực hiện nghĩa vụ đóng.
Đáng chú ý, Nghị định cũng lần đầu thiết lập cơ chế hỗ trợ Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp từ ngân sách nhà nước với nguyên tắc cụ thể. Theo đó, ngân sách trung ương có thể hỗ trợ tối đa 1% quỹ tiền lương tháng làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp của người lao động đang tham gia, nhằm bảo đảm số dư Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp hằng năm bằng hai lần tổng số chi cho các chế độ và chi phí tổ chức thực hiện của năm trước liền kề.
Đồng thời, nghị định quy định rõ phương thức chuyển kinh phí hỗ trợ, thời điểm lập và thẩm định dự toán của Bộ Tài chính, cũng như cơ chế hoàn trả hoặc bổ sung phần chênh lệch theo thực tế thực hiện.