NTK Anna Hạnh Lê - Quyền Chủ tịch Hiệp hội Áo dài TP.HCM: “Áo dài có thể trở thành một biểu tượng mềm của công nghiệp văn hóa TP.HCM”
Gần cuối năm, NTK Lê Thị Mỹ Hạnh (Anna Hạnh Lê) khá bận nhưng vì câu chuyện… áo dài còn dang dở trước đó nên sẵn sàng gác lại một cuộc hẹn với đối tác để trò chuyện với tôi. Vẫn chỉ xoay quanh chuyện nghề, chuyện chiếc áo dài và văn hóa… Hạnh bắt đầu câu chuyện khởi nghiệp từ hạt mầm được gieo vào buổi sáng đầu tiên đi học được ba chở đến trường.
Hạnh kể:
- Từ nhỏ, từ mẫu giáo đến hết cấp hai, tôi chưa bao giờ được ba đưa đi học. Chỉ đến ngày đầu tiên bước vào cấp ba, tôi đi học và mặc áo dài. Hôm ấy, ba gọi điện và bảo sẽ chở tôi đi học vì sợ tôi mặc áo dài, đi xe đạp, tà áo dễ bị cuốn vào bánh xe.
Quãng đường khoảng 30 phút ngồi sau xe ba hôm ấy đã gieo vào tôi những hạt mầm đầu tiên của ước mơ. Tôi ngồi phía sau, gió miền Trung thổi lồng lộng. Trên đường đi, tôi tò mò nhìn những chiếc xe du lịch chở đầy khách Tây. Tôi hỏi ba vì sao họ phải bay rất xa, tốn nhiều tiền để đến một nơi mà trong mắt tôi khi ấy còn rất bình thường. Ba nói với tôi rằng: Khi đời sống vật chất đã đủ đầy, người ta tìm đến những giá trị văn hóa để cảm nhận chiều sâu của cuộc sống. Ba gọi đó là giá trị nhân bản.

Cũng từ những câu chuyện giản dị ấy, tôi bắt đầu hiểu thế nào là di sản, là văn hóa. Quê tôi - Quảng Nam - nơi có Hội An, Mỹ Sơn, được nhắc đến như những di sản văn hóa thế giới. Tôi nhận ra mình đang lớn lên trên một vùng đất giàu di sản và dường như, tôi có một mối duyên rất tự nhiên với văn hóa từ lúc nào không hay.
Trước đó không lâu, khi bước vào tuổi dậy thì, lần đầu tiên trong đời mặc chiếc áo dài. Tôi cảm nhận rõ ràng nữ tính của chính mình. Mọi người trong nhà khen tôi mặc áo dài đẹp và dịu dàng hẳn. Và dó cũng là lần đầu tôi bắt đầu biết soi gương, biết yêu dáng vóc của mình. Áo dài, từ khoảnh khắc ấy, không chỉ là trang phục học đường, mà trở thành dấu mốc đánh thức ý thức về giới tính, về bản thân và về vẻ đẹp rất riêng của người phụ nữ Việt.
Tất cả những điều đó, chiếc áo dài đầu đời, quãng đường ngồi sau xe ba, những câu chuyện về văn hóa và di sản đã âm thầm dệt nên trong tôi một định hướng sống. Tôi không gọi tên được ước mơ khi ấy, nhưng tôi biết rất rõ: Mình sẽ đi bắt đầu từ văn hóa. Và tôi đã có hành trình 15 năm gắn nghiệp với chiếc áo dài. Điều đáng nói là khi vào nghề, tôi không xem áo dài chỉ là thời trang mà chính là một biểu tượng văn hóa mềm của Việt Nam - nơi người phụ nữ tìm lại vẻ đẹp, sự tự trọng và bản sắc. Và đó là lý do tôi không chỉ “làm áo dài”, mà còn giữ áo dài như một trách nhiệm văn hóa - con đường mà tôi được gieo mầm từ buổi sáng đầu tiên ba chở tôi đến trường.
* Vì sao chị quan niệm áo dài là một ngôn ngữ của văn hóa sống?
- Áo dài không chỉ là thời trang, phần quan trọng hơn nằm ở chỗ khả năng giao tiếp không lời về bản sắc, lịch sử và tinh thần Việt. Khi một người khoác áo dài lên, họ không chỉ chọn mặc đẹp mà đang kể một câu chuyện rất Việt Nam và điều thú vị là câu chuyện ấy mang dấu ấn riêng của từng cá nhân, mang ngôn ngữ văn hoá của nữ tính Việt. Ngôn ngữ ấy được thể hiện bằng đường nét, chất liệu, sự tiết chế và cả những khoảng lặng rất riêng. Cùng một kiểu áo dài, một chất liệu nhưng mỗi người phụ nữ lại mang vào đó một phong thái, một câu chuyện và một phom dáng, vẻ đẹp rất riêng, không trùng lắp và chỉ áo dài mới tạo ra những “ngôn ngữ cơ thể” rất riêng ấy. Vì vậy, tôi không gọi áo dài đơn thuần là thời trang mà coi nó như một ngôn ngữ văn hóa, là văn hóa mềm - nơi cái đẹp được cá nhân hóa, nhưng vẫn giữ chung một nét đẹp cội rễ truyền thống Việt Nam.

* Gần đây áo dài phục hồi, đặc biệt giới trẻ yêu thích áo dài cổ phục, cách tân, chị quan niệm thế nào về sự sáng tạo, biến tấu chiếc áo dài truyền thống?
- Di sản là những gì đã được thử thách qua thời gian, tựa như gốc rễ bền chặt của văn hóa. Khi công nghệ và mạng xã hội phát triển quá mạnh, con người có xu hướng tìm về những giá trị chân thật và bền vững nên việc giới trẻ bây giờ quay về với những giá trị thật và truyền thống cũng là dễ hiểu, không chỉ diễn ra ở Việt Nam mà trên toàn thế giới.
Tuy nhiên, chúng ta phải hiểu văn hóa mặc áo dài, chứ không chỉ đơn thuần thiết kế kiểu dáng theo ý thích chủ quan. Cổ phục truyền thống như áo ngũ thân, tứ thân... là những kiểu áo xưa. Sau này, áo dài đã có những bước cải tiến, chẳng hạn như phong cách áo dài do họa sĩ Lê Phổ cách tân, rồi đến kiểu áo dài tay raglan (kiểu hiện đại phổ biến). Ngày nay còn có áo dài cách tân hiện đại, có dạng ngắn hơn, thậm chí có thời kỳ người ta mặc áo dài với quần jeans.
Tóm lại, trải nghiệm mang tính cá nhân hóa cần được tôn trọng. Khi nói về văn hóa mặc, đừng nghĩ áo dài chỉ là trang phục truyền thống bó hẹp trong khuôn khổ lễ nghi. Nếu chúng ta cứ đóng khung áo dài là trang phục truyền thống hoặc cổ phục cố định, sẽ không thấy hết được vẻ đẹp và khả năng thích ứng đa dạng của áo dài trong đời sống hiện đại. Hiện nay, áo dài có rất nhiều phong cách và cách mặc phong phú. Văn hóa áo dài cũng là một phần của văn hóa ngoại giao mềm. Người phụ nữ hiện đại có thể ứng dụng thời trang áo dài trong nhiều hoàn cảnh khác nhau, vì thế chúng ta cần tôn trọng tính đa dạng đó.
Ví dụ, có những phu nhân đại sứ quán hoặc phu nhân bộ trưởng đến Bỳfas với nhu cầu may một bộ áo dài thật đặc biệt cho sự kiện của họ. Họ muốn có trải nghiệm couture, tức là thời trang thiết kế cao cấp, đo may riêng. Ở Byfas “couture” được định nghĩa là “thời trang thiết kế cao cấp”, là trải nghiệm cá nhân hóa cho khách hàng. Đó cũng là lý do tôi đặt tên thương hiệu của mình là Áo dài Couture Byfast.

* Tạp chí Doanh Nhân Sài Gòn từng phát động doanh nhân nam - nữ mặc áo dài. Theo chị, làm sao để áo dài trở thành một lựa chọn tự nhiên và hàng ngày hơn?
- Nhiều người vẫn xem áo dài là trang phục chỉ dành cho Tết hoặc lễ nghi đặc biệt. Khi bị đặt trong khung lễ hội, áo dài rất khó đi vào đời sống thường nhật, càng khó trở thành lựa chọn trong nhịp sống công việc của doanh nhân. Vì vậy, áo dài cần được tiếp cận như một sự hiện diện tinh tế trong đời sống, vừa trang trọng, vừa linh hoạt và mang lại cảm giác tự tin.
Điều quan trọng là khi áo dài được thiết kế chuẩn mực, ứng dụng hợp lý và gắn với trải nghiệm, áo dài sẽ được lựa chọn một cách tự nhiên trong đời sống và những thời khắc quan trọng của doanh nhân. Khi đó, áo dài không đại diện cho truyền thống thuần túy, mà trở thành một phần phong cách sống và bản lĩnh lãnh đạo của người phụ nữ.
Thay vì phong trào đại trà, tôi cho rằng nên bắt đầu từ nhóm tinh hoa - những nữ doanh nhân đầu ngành. Chỉ cần một vài khoảnh khắc mặc áo dài đúng ngữ cảnh, được kể lại bằng hình ảnh và câu chuyện, áo dài sẽ dần trở thành biểu tượng của phong cách lãnh đạo và bản sắc doanh nhân Việt. Khi sự lan tỏa đến từ sự ngưỡng mộ (chứ không phải lời kêu gọi) áo dài sẽ tự nhiên trở lại đời sống.
* Thời điểm chị bắt đầu khởi nghiệp với áo dài, nhiều người xem áo dài là cũ, khó thương mại hóa và phong trào áo dài cách tân nở rộ, điều gì giúp chị đi suốt 15 năm và định vị được thị trường riêng?
- Việc thị trường xuất hiện ngày càng nhiều áo dài “cách tân” là tín hiệu tốt vì cho thấy áo dài đã đi vào đời sống. Tuy nhiên, đổi mới không có nghĩa là “chối bỏ” những giá trị nền tảng. Quyết định khó khăn nhất của tôi lúc đó là không chạy theo số đông, không làm áo dài đại trà, không lấy tốc độ và trào lưu làm trước đo. Tôi chọn con đường chậm hơn: Chuẩn mực, thủ công, chiều sâu văn hóa.
Trong suốt hơn 15 năm qua, Byfas được dẫn dắt bởi ba giá trị cốt lõi: Tôn trọng di sản, tinh tế trong thẩm mỹ và bền vững trong phát triển. Áo Dài Couture Art Gallery ra đời khi tôi nhận thấy áo dài cần một cách tiếp cận mới: Tinh tế hơn, chuẩn mực hơn và gắn với trải nghiệm. Tôi mong áo dài không chỉ đẹp về hình thức, mà mang lại trải nghiệm cảm xúc cho người mặc - nơi mỗi người phụ nữ cảm thấy mình được lắng nghe, được tôn trọng và được là chính mình. Vì vậy, tôi chọn con đường chậm, đi sâu vào lụa, vào tay nghề thủ công và những giá trị bền vững.
Dù con đường đó nhiều năm qua rất thách thức, nhưng đó là cách tôi giữ được giá trị của nghề may truyền thống và những nghề thủ công Việt Nam đi cùng áo dài.

* Câu hỏi tôi quan tâm không phải “thiết kế áo dài của chị đẹp hay không”, mà là áo dài có nuôi sống được một doanh nghiệp của chị hay không?
- Đó chính là sự hy sinh. Đam mê và lý tưởng là cần, nhưng doanh nghiệp muốn sống phải có dòng tiền, phải vận hành, giống như bánh xe muốn lăn phải có xăng. Với câu hỏi của chị, tôi chọn trả lời bằng mô hình kinh doanh mà tôi đang theo đuổi, đó là đặt giá trị của áo dài ở trải nghiệm cá nhân hóa và sự tinh xảo. Khách hàng đến với tôi không chỉ mua một chiếc áo. Họ mua một trải nghiệm khiến họ hài lòng với chính mình. Thực ra, một chiếc áo đẹp nhất không phải chiếc áo đẹp trên giá treo, mà là chiếc áo khiến người mặc cảm thấy mình đẹp, mình đúng, mình tự tin. Tôi tôn trọng điều đó và biến nó thành giá trị cốt lõi để nuôi sống doanh nghiệp và đam mê. Và dĩ nhiên, đã đam mê thì phải có sự đánh đổi.
* Giữa ranh giới bảo tồn và sáng tạo, chị cân bằng như thế nào ?
- Tôi nghĩ ranh giới nằm ở tinh thần cốt lõi. Sáng tạo được, đổi mới được nhưng không được làm mất đi dáng vóc và khí chất, tức “ngôn ngữ văn hóa” của áo dài. Dù cách điệu đến đâu, tôi vẫn giữ những nguyên tắc nền: Phom dáng, tỷ lệ, đường cắt… để người mặc và ai đó nhìn vao đều nhận ra: Đó là áo dài Byfas và người phụ nữ mặc lên vẫn giữ được vẻ thanh nhã, tự trọng, tinh tế.
* Chị đánh giá thế nào về vị trí của áo dài trong chiến lược văn hóa và du lịch hiện nay?
- Tôi cho rằng áo dài nên hiện diện như một biểu tượng văn hóa mềm, thấm sâu vào đời sống đô thị. Khi trải nghiệm và cảm xúc của người mặc được đặt làm trung tâm, áo dài hoàn toàn có thể trở thành một sản phẩm văn hóa tiêu biểu của du lịch Việt Nam, góp phần định vị hình ảnh đất nước bằng chiều sâu bản sắc.
* Áo dài Việt Nam đã và đang được đề xuất ghi danh vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể, việc này theo bà có ý nghĩa ra sao?
- Cá nhân tôi cũng như tất cả thành viên Hiệp hội Áo dài đều rất mong chờ ngày áo dài Việt Nam được chính thức công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia. Việc được vinh danh ở tầm quốc tế trước hết sẽ khẳng định giá trị đặc biệt của áo dài - rằng áo dài không chỉ là trang phục thường ngày mà còn chứa đựng bản sắc, truyền thống đáng tự hào của cả dân tộc. Nó cũng giống như khi nhắc đến kimono của Nhật hay hanbok của Hàn Quốc, người ta nghĩ ngay đến di sản văn hóa độc đáo. Áo dài Việt Nam hoàn toàn xứng đáng có vị trí như vậy.
Nếu áo dài được UNESCO công nhận, đó sẽ là cơ hội vàng để quảng bá hình ảnh Việt Nam ra thế giới. Khi di sản đã được vinh danh, du khách quốc tế chắc chắn quan tâm nhiều hơn; các show diễn thời trang áo dài, bảo tàng áo dài, làng nghề lụa… cũng sẽ thu hút hơn trong mắt bạn bè năm châu.
Về mặt kinh tế, danh hiệu di sản có thể mở ra nguồn lực hỗ trợ cho cộng đồng làm nghề. Ví dụ nhà nước và các tổ chức quốc tế có thể đầu tư kinh phí bảo tồn, đào tạo nghệ nhân, mở rộng thị trường cho sản phẩm áo dài và lụa tơ tằm.Tuy nhiên, tôi cũng nghĩ danh hiệu chỉ là bước đầu. Điều quan trọng nhất là chúng ta phải chứng minh được áo dài có sức sống mãnh liệt trong cộng đồng, chứ không phải sau khi nhận danh hiệu rồi thì áo dài lại lùi vào tủ kính trưng bày. Hiệp hội Áo dài TP.HCM ý thức rất rõ điều này. Chúng tôi đang phối hợp cùng các đơn vị bạn (như Hội Phụ nữ, Hội Di sản…) sưu tầm tư liệu, hiện vật, câu chuyện liên quan đến áo dài để đóng góp cho hồ sơ di sản. Đồng thời, chúng tôi đẩy mạnh tổ chức các sự kiện để áo dài hiện diện nhiều nhất có thể trong đời sống như lễ hội, cuộc thi thiết kế áo dài, ngày hội mặc áo dài toàn Thành phố… Mục tiêu là để quốc tế thấy rằng: Áo dài không hề là một di sản “chết”, ngược lại nó đang được người dân Việt Nam trân trọng, sử dụng và sáng tạo không ngừng.

* Vì sao chị đảm nhận vai trò tại Hiệp hội áo dài, một việc còn khó hơn khởi nghiệp?
- Đúng là đảm nhận vai trò này còn khó hơn rất nhiều so với việc khởi nghiệp hay điều hành một doanh nghiệp, nhất là trong bối cảnh hậu dịch và nhiều biến động kinh tế. Tuy nhiên, tôi cho rằng đã đến thời điểm mình cần chia sẻ. Không phải vì đã “đủ đầy”, mà vì mình có kiến thức, có trải nghiệm, có sự trả giá và những giá trị cốt lõi đã được kiểm chứng. Quan trọng hơn, tôi thấy có nhiều người đang cần thông tin đúng, đủ, chuẩn mực và có cam kết. Khi có một tổ chức đủ uy tín đứng ra kết nối, họ sẽ tìm đến, không chỉ vì áo dài, mà vì văn hóa, nghề thủ công và những giá trị liên quan mà Hiệp hội đang theo đuổi.
Thay vì phát động những phong trào quá rộng và mang tính hình thức, tôi nghĩ Hiệp hội nên là một không gian văn minh, nơi mỗi người chia sẻ trong khả năng của mình: Có thời gian thì chia sẻ thời gian, có nguồn lực thì chia sẻ nguồn lực, có kinh nghiệm thì chia sẻ kinh nghiệm, có cơ hội thì chia sẻ cơ hội. Tinh thần cốt lõi là tinh thần chia sẻ, dù nhiều hay ít.
Trong nhiệm kỳ đầu, mong muốn lớn nhất của tôi là Hiệp hội có thể xây dựng được chuẩn mực và định hướng diễn ngôn đúng về áo dài, đồng thời tạo ra không gian để áo dài được sống trong đời sống đương đại một cách tử tế và bền vững.
* Để di sản áo dài được gìn giữ, điều bà suy nghĩ quan tâm là gì?
- Thực tế hiện nay, áo dài bị sân khấu hóa, du lịch hóa, áo dài sản xuất hàng loạt từ Trung Quốc tràn vào thị trường trong nước và trên các kênh bán hàng mạng xã hội rất đại trà, nhiều nhà thiết kế đi diễn rất nhiều, nhiều bộ áo dài đẹp nhưng không bán được sản phẩm. Người làm nghề trăn trở, bởi nếu không giữ được hệ sinh thái cho người yêu nghề, thì giá trị thật của áo dài sẽ dần mai một.
Tuy nhiên, vấn đề tôi quan tâm không nằm ở việc áo dài xuất hiện trong du lịch hay sân khấu, mà nằm ở cách chúng ta kể câu chuyện về áo dài. Khi áo dài chỉ còn là đạo cụ chụp hình hay sản phẩm trình diễn ngắn hạn, trải nghiệm văn hóa sẽ bị làm mỏng. Trách nhiệm này thuộc về những người làm nghề, làm truyền thông và cả người mặc trong văn hóa ứng xử và văn hóa mặc của chính họ.
Với Hiệp hội Áo dài, vai trò quan trọng nhất là cầu nối: Kết nối sáng tạo, kết nối nghề thủ công, kết nối kinh doanh, kết nối du lịch. Chúng tôi tạo không gian để các nhà thiết kế, nghệ nhân có sân chơi đúng nghĩa: Trưng bày tác phẩm, giới thiệu bộ sưu tập, gặp gỡ khách hàng, phát triển nghề một cách bền vững. Những hoạt động như Ngày hội Văn hóa Áo dài, Triển lãm tinh hoa áo dài hay các chương trình tôn vinh doanh nhân yêu áo dài đều hướng đến mục tiêu đó.
Về dài hạn, tôi tin áo dài hoàn toàn có thể trở thành một biểu tượng mềm của công nghiệp văn hóa TP.HCM, nếu được nhìn nhận như một tài sản văn hóa có khả năng tạo ra giá trị kinh tế, chứ không chỉ là trang phục lễ hội. Một bộ áo dài couture, phía sau nó là công ăn việc làm cho nghệ nhân, cho thợ lành nghề, cho cả một hệ sinh thái sáng tạo.
Vì thế, làm Hiệp hội cũng giống như gieo một cái cây hay mở một con đường mới: Phải dũng cảm trong lựa chọn, quyết liệt trong quyết định, nhưng cũng phải bao dung và kiên nhẫn. Phải dọn cỏ, dọn đá, chấp nhận khó khăn ban đầu để người khác có thể bước đi thuận lợi hơn sau này. Và tôi nghĩ, những người sáng lập Hiệp hội Áo dài TP.HCM phải chấp nhận dấn thân với tinh thần đó.
* Vậy Hiệp hội nên bắt đầu từ đâu?
- Tôi nghĩ Hiệp hội không sinh ra để “giải quyết vấn đề xã hội” theo kiểu khẩu hiệu. Áo dài vốn đã là một giá trị. Việc của Hiệp hội là xây dựng chuẩn mực và định hướng diễn ngôn đúng về áo dài để người ta hiểu đúng, mặc đúng, kể đúng; tạo không gian để áo dài sống trong đời sống đương đại một cách tử tế và bền vững chứ không chỉ tồn tại trong lễ hội.
Ngoài ra, Hiệp hội cần làm tốt vai trò kết nối sáng tạo, tạo sân chơi để nhà thiết kế có nơi giới thiệu tác phẩm, có nơi gặp khách hàng, có cơ hội kinh doanh thật sự chứ không chỉ “diễn để diễn”. Khi một sản phẩm sáng tạo được đánh giá đúng, người ta sẽ phân biệt được đâu là sản phẩm tinh hoa, đâu là hàng sao chép đóng gói.
* Chị thường nói về “công nghiệp văn hóa”, áo dài có thể đứng ở đâu trong chiến lược này?
- Tôi tin áo dài hoàn toàn có thể trở thành một biểu tượng mềm của công nghiệp văn hóa TP.HCM nếu được nhìn nhận không chỉ là trang phục lễ hội, mà là tài sản văn hóa có khả năng tạo ra giá trị kinh tế. Một chiếc áo dài couture (cao cấp), nếu làm đúng, phía sau nó là công ăn việc làm cho nghệ nhân cắt form, thợ may, thợ đính kết thủ công… Những người đó không thể được trả lương như lao động phổ thông, vì đó là nghề tinh xảo. Nếu áo dài được đặt đúng vị trí, nó tạo ra một chuỗi sinh kế danh giá và bền vững.
Tôi cũng nhìn thị trường theo hướng thực tế. Trong giai đoạn nhiều khó khăn, du lịch đang là một ngành có chỉ số tăng trưởng tích cực. Nếu áo dài được định dạng như một trải nghiệm văn hóa, kinh tế có chiều sâu, mang tính cá nhân hóa cao, không đại trà, không sao chép thì nó có thể trở thành sản phẩm chủ lực đi kèm du lịch.
Không phải kiểu “bán áo dài như bán hàng chợ”, mà là tạo một trải nghiệm. Khách chạm vào lụa, hiểu quy trình, hiểu câu chuyện, hiểu văn hóa mặc… và mang theo ký ức đó như một phần “memory” gắn với Việt Nam. Bảo tàng không làm thay được điều này. Trải nghiệm sống mới làm được.
* Theo chị, điều quan trọng nhất để áo dài đi xa là gì?
- Dũng cảm trong lựa chọn, quyết liệt trong quyết định và kiên nhẫn trong hành trình. Giống như gieo một cái cây hay mở một con đường: Phải dọn cỏ, nhặt đá, gỡ chướng ngại, rồi mới có người bước lên. Những người đi đầu phải dám dấn thân. Và tôi tin, nếu mình làm bằng năng lực thật và động cơ chân chính, thì con đường đó sẽ mở ra.
* Cảm ơn chị về buổi trò chuyện thân tình này!