Điểm nghẽn thương mại hóa nghiên cứu: Để Nhà nước là “khách hàng” đầu tiên của thương mại hóa (Bài 3)
Sau một năm triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, hệ sinh thái khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo tại TP.HCM đã ghi nhận những chuyển động tích cực. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều nút thắt, trong đó không ít nghiên cứu chỉ dừng lại ở phòng thí nghiệm.
Bài 3: Để Nhà nước là “khách hàng” đầu tiên của thương mại hóa
Tại Hội nghị tổng kết năm 2025 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số mới đây, Tổng Bí thư Tô Lâm định hướng Nhà nước phải đóng vai trò kiến tạo, tháo gỡ rào cản, đồng thời là những "khách hàng" đầu tiên đặt hàng các sản phẩm, dịch vụ và giải pháp về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, tạo thị trường khởi đầu cho những kết quả nghiên cứu, sáng chế, ứng dụng công nghệ mới, tạo động lực cho doanh nghiệp, viện, trường…
Để tránh rủi ro

Định hướng của Tổng Bí thư Tô Lâm về việc Nhà nước phải trở thành chủ thể kiến tạo, đóng vai trò “khách hàng” đầu tiên cho các sản phẩm công nghệ mới, có thể xem là một chỉ dấu rất trúng và rất đúng. Nó chạm vào điểm nghẽn cốt lõi của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo Việt Nam hiện nay: Thiếu cầu thực sự cho sản phẩm khoa học - công nghệ nội địa.
Khi Nhà nước đóng vai trò “khách hàng đầu tiên”, điều cốt lõi không nằm ở việc mua cho đủ hay mua cho nhanh, mà là mua đúng cách để chia sẻ rủi ro và tạo niềm tin cho thị trường. Ở giai đoạn đầu, thay vì chỉ mua sắm những sản phẩm đã có sẵn, Nhà nước cần sẵn sàng đặt hàng các giải pháp chưa tồn tại, xuất phát từ những bài toán cụ thể của quản lý và phát triển. Khi một cơ quan công quyền đưa ra yêu cầu rõ ràng về một vấn đề cần giải quyết, và chấp nhận cùng doanh nghiệp đi qua các giai đoạn nghiên cứu, thử nghiệm, sàng lọc, thì rủi ro công nghệ không còn dồn hết lên vai doanh nghiệp. Quan trọng hơn, nếu doanh nghiệp được giữ quyền sở hữu trí tuệ đối với kết quả nghiên cứu, họ sẽ có động lực tiếp tục thương mại hóa sản phẩm đó ra thị trường dân sự, tạo hiệu ứng lan tỏa vượt ra ngoài phạm vi mua sắm công ban đầu.
Một điểm then chốt khác trong vai trò “khách hàng đầu tiên” là việc Nhà nước sẵn sàng mua hoặc thuê các sản phẩm đã hoàn thiện trong phòng thí nghiệm để triển khai thử nghiệm trong điều kiện thực tế. Đây chính là “thung lũng chết” mà rất nhiều sáng chế Việt Nam không thể vượt qua. Sản phẩm chưa được kiểm chứng ngoài thực địa thì doanh nghiệp tư nhân không dám mua, còn nếu không có hợp đồng đầu tiên, nhà đầu tư cũng khó rót vốn. Trong bối cảnh đó, một hợp đồng mua sắm hay thuê dịch vụ thử nghiệm từ khu vực công không chỉ mang giá trị tài chính, mà còn là một “giấy chứng nhận chất lượng” có sức nặng, giúp doanh nghiệp mở cánh cửa ra thị trường rộng lớn hơn.
Ngoài ra, Nhà nước còn có thể kiến tạo thị trường bằng cách thiết lập các tiêu chuẩn và định mức kỹ thuật mới, đòi hỏi hàm lượng công nghệ cao hơn. Khi các quy chuẩn này được áp dụng trong đầu tư công, cầu thị trường sẽ tự động được kích hoạt. Doanh nghiệp buộc phải tìm đến các giải pháp sáng chế, đổi mới sáng tạo để đáp ứng yêu cầu, thay vì tiếp tục sử dụng những công nghệ cũ, rẻ nhưng kém hiệu quả và không bền vững.
Ở các nước, có thể thấy các quốc gia dẫn đầu về công nghệ đều đã sử dụng những công cụ chính sách rất thực dụng để “bảo hiểm” cho rủi ro đổi mới. Ở Hoa Kỳ, chương trình SBIR được xem là chuẩn mực không chỉ vì nguồn tài trợ, mà vì cơ chế cho phép chính phủ tiếp tục mua sản phẩm của doanh nghiệp nhỏ ở giai đoạn thương mại hóa mà không phải đấu thầu lại, sau khi họ đã chứng minh năng lực ở giai đoạn R&D. Cách làm này giúp các doanh nghiệp non trẻ tránh được sự cạnh tranh bất cân xứng về giá với các tập đoàn lớn, vốn có lợi thế sản xuất quy mô.

Tại Trung Quốc, khi một công nghệ nội địa mới được đưa vào sử dụng lần đầu, Nhà nước hỗ trợ phần lớn phí bảo hiểm. Nếu xảy ra sự cố kỹ thuật, bảo hiểm sẽ bồi thường, thay vì đẩy toàn bộ trách nhiệm lên vai đơn vị mua sắm. Còn ở Hàn Quốc, việc mua sắm các sản phẩm công nghệ xuất sắc thậm chí được gắn với trách nhiệm đánh giá người đứng đầu cơ quan, buộc khu vực công phải chủ động tìm kiếm và sử dụng sản phẩm đổi mới sáng tạo.
So với những kinh nghiệm đó, Việt Nam không thiếu chủ trương, nhưng lại đang vướng ở khâu thực thi. Dù Nghị quyết 57 và Nghị quyết 193/2025/QH15 đã nhấn mạnh tinh thần chấp nhận rủi ro có kiểm soát, tư duy mua sắm công hiện nay vẫn bị chi phối mạnh bởi các quy định đấu thầu truyền thống. Tiêu chí giá thấp nhất và yêu cầu về hợp đồng tương tự khiến hầu hết các sáng chế mới gần như không có cơ hội tham gia. Bên cạnh đó, áp lực thanh tra, kiểm toán khiến người ký quyết định luôn chọn phương án an toàn, ngay cả khi điều đó đồng nghĩa với việc bỏ lỡ cơ hội tiếp cận công nghệ mới.
Một điểm nghẽn khác không kém phần nan giải là vấn đề định giá tài sản công, đặc biệt là tài sản trí tuệ hình thành từ ngân sách nhà nước tại các trường đại học, viện nghiên cứu. Việc định giá thấp thì lo thất thoát, định giá cao thì không ai mua, còn các tổ chức định giá cũng ngần ngại chịu trách nhiệm cho một sản phẩm chưa có thị trường. Kết quả là quá trình chuyển giao bị tắc nghẽn ngay từ khâu đầu tiên.
TP.HCM: Không gian thử nghiệm cho tư duy "mua sắm kiến tạo"
Với những cơ chế đặc thù từ Nghị quyết 98/2023/QH15, Thành phố hoàn toàn có thể trở thành không gian thử nghiệm cho tư duy “mua sắm kiến tạo”. Nếu dám đi trước một bước, TP.HCM có thể xây dựng một danh mục các sản phẩm đổi mới sáng tạo do doanh nghiệp, viện trường trên địa bàn làm chủ, được thẩm định bởi cơ quan chuyên môn và hội đồng khoa học. Những sản phẩm này, khi phục vụ cho nhu cầu công, có thể được áp dụng cơ chế mua sắm thử nghiệm hoặc chỉ định thầu rút gọn với hạn mức rõ ràng, thay vì bị ràng buộc bởi các tiêu chí doanh thu hay lịch sử hợp đồng.

Quan trọng hơn, Thành phố cần chuyển mạnh từ cách mua sắm dựa trên mô tả kỹ thuật chi li sang mua sắm dựa trên hiệu quả đầu ra. Khi cơ quan nhà nước đặt ra bài toán về kết quả cần đạt được, thay vì áp đặt giải pháp, cánh cửa sẽ mở ra cho các startup và doanh nghiệp công nghệ đề xuất những cách làm mới, thậm chí vượt ra ngoài khuôn mẫu tư duy hiện có của bộ máy quản lý. Song song đó, một cơ chế bảo vệ rõ ràng cho những cán bộ dám quyết định, dám thử nghiệm cũng là điều kiện tiên quyết để tinh thần đổi mới không bị triệt tiêu ngay từ trong trứng nước.
Cuối cùng, nếu biết tận dụng đúng vai trò của các vườn ươm đại học, TP.HCM có thể tạo ra một chu trình khép kín, nơi ngân sách nhà nước đóng vai trò vốn mồi, thúc đẩy hình thành các doanh nghiệp khởi nguồn công nghệ, đồng thời tạo ra nguồn cung sản phẩm chất lượng cho chính nhu cầu mua sắm công của Thành phố.
Thương mại hóa sáng chế, xét cho cùng, không chỉ là câu chuyện bán - mua, mà là thước đo năng lực tự cường và chủ quyền công nghệ của một quốc gia. Khi Nhà nước trở thành “khách hàng đầu tiên”, điều được mua không chỉ là một sản phẩm cụ thể, mà là tương lai của nền khoa học - công nghệ trong nước. Cơ chế đã có, định hướng đã rõ. Vấn đề còn lại nằm ở bản lĩnh phá bỏ lối mòn, chấp nhận rủi ro trong khuôn khổ để đổi lấy những bước tiến dài hạn. Với truyền thống năng động và dám thử nghiệm, TP.HCM có đủ điều kiện để trở thành nơi khởi phát cho cuộc cách mạng mua sắm kiến tạo này.
(*) Viện trưởng Viện Phát triển Kinh tế số Việt Nam
(**) Trường Bồi dưỡng Cán bộ Kinh tế - Tài chính
Theo UBND TP.HCM, việc thiếu cơ chế hỗ trợ cụ thể từ chính sách công dẫn tới chỉ 20% trong số 500 dự án khởi nghiệp mà Trung tâm Khởi nghiệp sáng tạo TP.HCM hỗ trợ được kết nối nguồn vốn đầu tư mạo hiểm hoặc các đối tác doanh nghiệp lớn. Thiếu cơ chế kết nối và hỗ trợ từ các tổ chức trung gian khiến chỉ 10% kết quả nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo trong nước được tích hợp vào các dự án đầu tư tại Ban Quản lý Khu công nghệ cao Thành phố.
Chính từ điểm nghẽn trên, vừa mới đây, UBND TP.HCM quyết định triển khai Đề án thí điểm chính sách tạo động lực thương mại hóa, đưa nhanh kết quả nghiên cứu, tài sản trí tuệ được tạo ra từ ngân sách nhà nước vào sản xuất, kinh doanh thời gian từ năm 2026 - 2028.
Đối tượng được thụ hưởng chính sách này là các cơ quan được giao quản lý ngân sách nhà nước trong lĩnh vực khoa học và công nghệ; các tổ chức nghiên cứu, trường đại học thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo sử dụng ngân sách nhà nước TP.HCM; doanh nghiệp khoa học và công nghệ, doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo và các tổ chức, cá nhân khác có liên quan trên địa bàn Thành phố.
Đề án tập trung giải quyết 3 vấn đề chính: Cơ chế giao quyền cho tổ chức, cá nhân không là tổ chức chủ trì đối với tài sản hình thành từ việc triển khai nhiệm vụ sử dụng ngân sách nhà nước; chính sách ưu đãi, hỗ trợ về các hoạt động trung gian để phát triển sản phẩm ra thị trường; cơ chế kiểm soát, đánh giá hiệu quả hoạt động thương mại hóa. Các cơ chế này nhằm tạo điều kiện để kết quả nghiên cứu nhanh chóng được thương mại hóa, thúc đẩy giá trị kinh tế - xã hội Thành phố. Đáng lưu ý, với cơ chế tài chính, TP.HCM sẽ hỗ trợ một phần kinh phí từ ngân sách nhà nước đối với tổng kinh phí triển khai nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo để kích thích doanh nghiệp, thu hút nguồn xã hội hóa tham gia phát triển sản phẩm khoa học và công nghệ, kết quả nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo sử dụng vốn nhà nước theo hình thức giao trực tiếp. Thành phố cũng sử dụng nguồn kinh phí khoa học và công nghệ từ ngân sách nhà nước để mua sắm tài sản, hàng hóa phục vụ quá trình thử nghiệm và hoàn thiện sản phẩm.
TP.HCM cũng sẽ ưu tiên triển khai hình thành không gian hỗ trợ tư vấn, hỗ trợ các hoạt động trung gian liên quan đến thương mại hóa; Cung cấp dịch vụ định giá tài sản trí tuệ, hỗ trợ các đơn vị chủ trì nghiên cứu trong việc xác định giá trị thực tế của sản phẩm khoa học và công nghệ; Phối hợp với các tổ chức quốc tế và doanh nghiệp lớn để triển khai chương trình cố vấn trong quá trình thương mại hóa; Hình thành mạng lưới hợp tác giữa nhà nước, viện nghiên cứu và doanh nghiệp; Phối hợp với các tổ chức trung gian như văn phòng chuyển giao công nghệ để tìm kiếm đối tác tiềm năng.