Toàn cảnh

Điểm nghẽn thương mại hóa nghiên cứu: Để các nghiên cứu, sáng chế trở thành động lực phát triển kinh tế (Bài 2)

PGS-TS. Từ Diệp Công Thành (*) 14/01/2026 06:00

Sau một năm triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, hệ sinh thái khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo tại TP.HCM đã ghi nhận những chuyển động tích cực. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều nút thắt, trong đó không ít nghiên cứu chỉ dừng lại ở phòng thí nghiệm.

Bài 2: Để các nghiên cứu, sáng chế trở thành động lực phát triển kinh tế

Thời gian qua, TP.HCM ghi nhận tỷ lệ thương mại hóa nghiên cứu vẫn ở mức thấp, chỉ khoảng hơn 10%; con số này chỉ khoảng 5% với các dự án sử dụng ngân sách Nhà nước... cho thấy kết quả nghiên cứu chưa chuyển thành sản phẩm, dịch vụ mang lại giá trị kinh tế.

Khu Công nghệ phần mềm của Đại học Quốc gia TP.HCM
Khu Công nghệ phần mềm của Đại học Quốc gia TP.HCM

Những điểm nghẽn cản trở thương mại hóa nghiên cứu

Trong nhiều năm, hoạt động nghiên cứu khoa học ở Việt Nam nói chung và TP.HCM nói riêng chủ yếu được thiết kế xoay quanh logic nghiệm thu đề tài: Hoàn thành mục tiêu khoa học, đáp ứng yêu cầu chuyên môn và kết thúc bằng báo cáo, bài báo hoặc sản phẩm mẫu. Khi mục tiêu cuối cùng của nghiên cứu không gắn trực tiếp với thị trường, thì thương mại hóa trở thành một bước “phát sinh”, nặng rủi ro và thiếu động lực.

PGS-TS. Từ Diệp Công Thành
PGS-TS. Từ Diệp Công Thành

Bên cạnh đó, nhiều đề tài vẫn mang tính cải tiến nhỏ lẻ, mô tả hiện trạng hoặc giải quyết những vấn đề hẹp trong phạm vi chuyên môn, thiếu trọng tâm vào các bài toán lớn của phát triển kinh tế - xã hội. Khi nghiên cứu chưa xuất phát từ nhu cầu thị trường, thì ngay cả khi tạo ra được sáng chế, khả năng được doanh nghiệp tiếp nhận và đầu tư phát triển tiếp cũng rất hạn chế.

Điểm nghẽn tiếp theo nằm ở cơ chế chia sẻ rủi ro. Bản chất của nghiên cứu và đổi mới sáng tạo là rủi ro cao, tỷ lệ thất bại lớn. Tuy nhiên, hệ thống hiện nay lại chưa được thiết kế để phân bổ và chia sẻ rủi ro đó một cách hợp lý giữa các bên. Nhà khoa học quen làm việc trong khuôn khổ “an toàn” của đề tài được phê duyệt, với các chỉ tiêu đầu ra tương đối chắc chắn. Việc gắn nghiên cứu với thị trường đồng nghĩa với việc chấp nhận rủi ro về kỹ thuật, tài chính và trách nhiệm pháp lý - điều mà nhiều cá nhân và tổ chức vẫn còn e ngại.

Vấn đề tài sản hình thành từ ngân sách nhà nước cũng là một nút thắt lớn. Việc định giá tài sản trí tuệ, phân chia lợi ích, xác định quyền sở hữu và trách nhiệm khi thương mại hóa vẫn thiếu những hướng dẫn rõ ràng và đủ linh hoạt. Trong bối cảnh đó, không ít trường đại học, viện nghiên cứu tại Thành phố chọn cách “đứng ngoài” hoặc chỉ tham gia ở mức độ thăm dò, để tránh rủi ro pháp lý. Hệ quả là nhiều kết quả nghiên cứu có tiềm năng bị bỏ lỡ, không được đầu tư hoàn thiện để trở thành sản phẩm, công nghệ sẵn sàng cho thị trường.

Bên cạnh đó, hệ sinh thái thương mại hóa nghiên cứu, sáng chế còn thiếu các tổ chức trung gian đủ mạnh. Khi doanh nghiệp tìm đến trường đại học, họ thường chỉ được giới thiệu một khoa hoặc một nhóm nghiên cứu riêng lẻ. Cách tiếp cận này khó tạo ra các hợp tác có quy mô và chiều sâu. Điều còn thiếu là những đơn vị trung gian chuyên nghiệp, có khả năng nắm bắt nhu cầu công nghệ của doanh nghiệp, “dịch” nhu cầu đó thành bài toán khoa học, tổ chức đội ngũ nghiên cứu liên ngành và thiết kế cơ chế chia sẻ lợi ích - trách nhiệm phù hợp. Khi không có những “bộ não trung gian” như vậy, mối liên kết giữa nghiên cứu và thị trường vẫn mang tính tự phát, manh mún và kém hiệu quả.

T1617 Còn nhiều điểm nghẽn cản trở thương mại hóa nghiên cứu
Còn nhiều điểm nghẽn cản trở thương mại hóa nghiên cứu

Các chủ thể trong liên kết “ba nhà”: Ai đang mắc ở đâu?

Khi đặt ba chủ thể mối liên kết “ba nhà” cạnh nhau, có thể thấy vấn đề không nằm ở việc thiếu nỗ lực của một phía, mà ở chỗ các bên chưa được phân vai rõ ràng và chưa có cơ chế đủ mạnh để cùng chia sẻ rủi ro và lợi ích. Đại học còn ở trong vùng an toàn, doanh nghiệp đứng ngoài giai đoạn đầu, còn Nhà nước chưa thực sự đóng vai nhạc trưởng kiến tạo.

Với đại học và viện nghiên cứu, rào cản lớn nhất nằm ở tư duy và mô hình tổ chức. Trong thời gian dài, thành tích khoa học chủ yếu được đo bằng số lượng bài báo, chỉ số trích dẫn và kết quả nghiệm thu đề tài. Nghiên cứu ứng dụng và hợp tác với doanh nghiệp thường được xem là hoạt động “bổ sung”, thậm chí tiềm ẩn nhiều rủi ro hơn là cơ hội. Không ít giảng viên, nhà khoa học vì thế lựa chọn con đường an toàn, tập trung vào những đề tài nằm trong vùng chuyên môn quen thuộc, thay vì dấn thân vào các bài toán phức tạp gắn với thị trường.

Mô hình tổ chức theo khoa, bộ môn cũng là một hạn chế. Cấu trúc này phù hợp với đào tạo và nghiên cứu hàn lâm, nhưng lại thiếu tính linh hoạt để trở thành đối tác hiệu quả của doanh nghiệp. Việc thiếu các phòng thí nghiệm (LAB) nghiên cứu thực thụ, nơi một nhóm nghiên cứu gắn bó lâu dài dưới sự dẫn dắt của giáo sư, khiến hợp tác thường mang tính ngắn hạn, theo dự án, khó tạo ra các kết quả có chiều sâu và khả năng thương mại hóa cao.

Ở phía lực lượng doanh nghiệp, phần lớn vẫn chỉ xuất hiện ở khâu cuối của chuỗi sáng chế, khi công nghệ đã tương đối hoàn thiện và rủi ro đã được “lọc” bớt. Việc tham gia từ đầu cùng đặt bài toán nghiên cứu, cùng đầu tư cho giai đoạn thử nghiệm và cùng chấp nhận rủi ro là có, nhưng chắc chắn không nhiều, nói cách khác vẫn là lựa chọn của rất ít doanh nghiệp.

Khảo sát bởi Trung tâm Thông tin và Thống kê khoa học và công nghệ - Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM cho thấy, trong giai đoạn 2014-2018 số lượng nhiệm vụ khoa học và công nghệ có kết quả được thương mại hóa thành công chỉ chiếm tỷ lệ 13%. Trong khi số lượng nhiệm vụ khoa học, công nghệ đã ở mức độ hoàn thiện sẵn sàng để chuyển giao nhưng chưa được thương mại hóa chiếm 37%.

Hệ quả là hợp tác đại học - doanh nghiệp thường chỉ dừng ở những nội dung “phụ” như thực tập, học bổng, tham quan, trong khi các hợp tác cốt lõi về nghiên cứu và phát triển công nghệ lại rất hiếm. Doanh nghiệp nhìn kết quả nghiên cứu như một “sản phẩm hoàn chỉnh” để mua hoặc chuyển giao, thay vì coi đó là một quá trình đồng hành. Cách tiếp cận này vừa làm giảm động lực của nhà khoa học, vừa khiến doanh nghiệp bỏ lỡ cơ hội nắm giữ những công nghệ có khả năng tạo lợi thế cạnh tranh dài hạn.

Với Nhà nước, không ít cơ quan quản lý khoa học - công nghệ vẫn nặng về hành chính, quản lý và cấp phát kinh phí, trong khi thiếu các chương trình mang tính “thực chiến” để dẫn dắt và kết nối các chủ thể trong hệ sinh thái. Cơ chế tài chính chưa đủ linh hoạt để hỗ trợ các giai đoạn rủi ro cao như hoàn thiện công nghệ, sản xuất thử hay triển khai pilot, khiến nhiều sáng chế không thể vượt qua “thung lũng chết” trước khi ra thị trường.

Để các nghiên cứu, sáng chế trở thành động lực phát triển kinh tế

Sau khi Nghị quyết 57 mở ra hành lang pháp lý, yêu cầu đặt ra là phải biến hành lang đó thành con đường đủ rộng, đủ thông suốt để tri thức khoa học đi đến thị trường.

Trước hết, cần đổi mới cách tổ chức nghiên cứu trong các cơ sở đào tạo và viện nghiên cứu. Các phòng thí nghiệm và trung tâm nghiên cứu do các giáo sư đầu ngành dẫn dắt, với đội ngũ nghiên cứu ổn định và gắn bó lâu dài, chính là nền tảng để tạo ra các giải pháp công nghệ có năng lực cạnh tranh. Mô hình này thúc đẩy nghiên cứu theo các nhóm chuyên sâu, gắn kết nhiều ngành, đủ sức tiếp cận các bài toán công nghệ phức tạp của doanh nghiệp và thị trường. Đặc biệt, không thể tách rời các định hướng nghiên cứu mũi nhọn, các lĩnh vực chiến lược mà Thành phố đã xác định như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn... Các “lab” như vậy cũng sẽ dễ tiếp cận nguồn vốn đầu tư, hình thành doanh nghiệp spin-off và phát triển sản phẩm mang thương hiệu học thuật - công nghiệp.

t1617. Hệ sinh thái thương mại hóa nghiên cứu, sáng chế còn thiếu các tổ chức trung gian đủ mạnh
Hệ sinh thái thương mại hóa nghiên cứu, sáng chế còn thiếu các tổ chức trung gian đủ mạnh

Vai trò của doanh nghiệp trong chuỗi hình thành sáng chế cần thiết lập cơ chế khuyến khích doanh nghiệp chủ động đầu tư cho R&D giai đoạn đầu. Doanh nghiệp tự đầu tư và khi sản phẩm thương mại hóa thành công, đặc biệt khi tiếp cận thị trường quốc tế, Nhà nước mới thực hiện hỗ trợ một phần chi phí R&D. Mô hình này tạo động lực cho doanh nghiệp cân nhắc lựa chọn dự án có khả năng thương mại hóa cao, đồng thời giảm gánh nặng quản lý cho cơ quan chức năng. Đồng thời, cần phân định rõ các loại hình nghiên cứu.

Trong bức tranh đó, Nhà nước đặc biệt là Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM cần chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo. Không chỉ dừng ở cấp phát kinh phí hay thẩm định đề tài, cơ quan quản lý phải đóng vai trò “bà đỡ” cho hợp tác đại học - doanh nghiệp: Thiết kế cơ chế chia sẻ rủi ro, dẫn dắt các chương trình đặt hàng nghiên cứu, hỗ trợ định giá và khai thác tài sản trí tuệ, đồng thời thúc đẩy các tổ chức trung gian đủ năng lực làm cầu nối. Việc mạnh dạn thí điểm các chính sách mới, cho phép thử nghiệm và chấp nhận rủi ro có kiểm soát, là điều kiện để hệ sinh thái vận hành linh hoạt hơn.

Nhà nước cũng nên mở rộng các quỹ đồng tài trợ R&D, trong đó hỗ trợ trực tiếp cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, yêu cầu các trường đại học dành một phần ngân sách nghiên cứu cho các dự án hợp tác doanh nghiệp. Các cơ chế ưu đãi tài sản trí tuệ, như rút ngắn thời gian thẩm định, miễn giảm thuế thu nhập từ tài sản trí tuệ, cũng sẽ là những công cụ thu hút doanh nghiệp đầu tư nghiêm túc vào nghiên cứu.

(*) Giám đốc Trung tâm Sở hữu trí tuệ và Chuyển giao công nghệ,
Đại học Quốc gia TP.HCM

Nổi bật
Đọc nhiều
Điểm nghẽn thương mại hóa nghiên cứu: Để các nghiên cứu, sáng chế trở thành động lực phát triển kinh tế (Bài 2)
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO