Xung đột Trung Đông và những tác động: Cú sốc chi phí đè nặng xuất khẩu (Bài 1)
Biến động địa chính trị tại Trung Đông đang đẩy giá năng lượng, logistics và chuỗi cung ứng vào trạng thái biến động mạnh. TP.HCM, với vai trò trung tâm sản xuất và xuất khẩu lớn nhất cả nước, ghi nhận tác động rõ ở nhiều ngành chủ lực. Chi phí gia tăng, thời gian vận chuyển kéo dài và dòng tiền bị kéo giãn đang làm suy giảm tốc độ tăng trưởng, đồng thời đặt ra yêu cầu điều chỉnh chiến lược ở cả cấp doanh nghiệp và cơ quan quản lý.
Nội dung được chia sẻ tại Chương trình Cafe Doanh nhân HUBA lần thứ 87 với chủ đề "Xung đột Trung Đông: Tác động đối với doanh nghiệp" do Hiệp hội Doanh nghiệp TP.HCM (HUBA) tổ chức sáng ngày 21/3.
TP.HCM gánh áp lực chi phí và giảm tốc xuất khẩu

Xung đột tại Trung Đông đang tạo ra hiệu ứng lan tỏa nhanh đến các mắt xích quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, từ năng lượng đến vận tải và chuỗi cung ứng. Giá dầu và khí tăng kéo theo chi phí sản xuất, lưu thông và xuất khẩu cùng dịch chuyển lên mặt bằng mới. Các tuyến vận tải bị kéo dài, lịch tàu thay đổi liên tục khiến kế hoạch giao hàng của doanh nghiệp phải điều chỉnh theo từng tuần.
Trong bối cảnh đó, TP.HCM trở thành khu vực chịu tác động rõ do quy mô xuất khẩu lớn và mức độ phụ thuộc cao vào thương mại quốc tế. Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu của thành phố đạt khoảng 92,68 tỷ USD, chiếm gần 19,5% tổng kim ngạch cả nước. Khi chi phí logistics tăng và thời gian vận chuyển chưa ổn định, tăng trưởng xuất khẩu của Thành phố được dự báo giảm từ 4% đến 6% tùy nhóm ngành.
Ông Nguyễn Khắc Hiếu - Phó Trưởng phòng Quản lý Năng lượng, Sở Công Thương TP.HCM cho biết mức độ tác động thể hiện rõ ở chi phí và dòng tiền doanh nghiệp. “TP.HCM có kim ngạch xuất khẩu gần 92,6 tỷ USD, chiếm khoảng 19% cả nước. Khi xuất khẩu giảm sẽ tác động trực tiếp đến tăng trưởng của thành phố. Áp lực hiện nay tập trung vào chi phí logistics, chi phí đầu vào và nhu cầu vốn lưu động tăng. Doanh nghiệp phải kéo dài chu kỳ vốn trong khi việc tiếp cận tín dụng còn gặp khó khăn”.
Tác động này thể hiện rõ ở các ngành xuất khẩu chủ lực như điện tử - máy tính và linh kiện; dệt may - da giày; nông - thủy sản; gỗ - nội thất. Những ngành này có tỷ trọng lớn trong cơ cấu xuất khẩu và phụ thuộc nhiều vào vận tải quốc tế.
Theo tính toán của Sở Công Thương TP.HCM, ngành điện tử ghi nhận mức giảm mạnh nhất về giá trị và dự báo tăng trưởng quý II/2026 có thể lùi từ 14% xuống còn 9-9,5%, tương ứng mức hụt kim ngạch khoảng 236,5-262,8 triệu USD. Ngành dệt may - da giày giảm từ 9% xuống 4-4,5%, hụt khoảng 142,8-158,6 triệu USD. Nhóm nông - thủy sản giảm từ 10% xuống 6,5-7%, hụt khoảng 66,5-77,6 triệu USD. Ngành gỗ - nội thất giảm từ 6% xuống 2,5-3%, hụt khoảng 60,8-71 triệu USD.
Theo ông Nguyễn Khắc Hiếu, các nhóm ngành này phụ thuộc lớn vào thời gian vận chuyển và điều kiện bảo quản. Khi hành trình kéo dài, rủi ro phát sinh ở chất lượng hàng hóa, chi phí lưu kho, phát sinh khiếu nại và khả năng giữ khách hàng. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả thương mại của từng lô hàng.
Chi phí tăng đã tác động đến tăng trưởng của TP.HCM. Ông Phạm Bình An - Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM cho biết các tín hiệu giảm tốc đã xuất hiện ngay trong quý đầu năm.
“Hai tháng đầu năm, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng khoảng 14%, xuất khẩu tăng trên 10%. Sang tháng 3, tốc độ tăng giảm xuống khoảng 5%. Chỉ số giá bắt đầu tăng và sức tiêu dùng giảm. Tác động đã đi vào nền kinh tế thực và ảnh hưởng trực tiếp đến tăng trưởng, ông Bình An cho biết.
.jpg)
Theo ông, với bối cảnh hiện nay, mục tiêu tăng trưởng hai con số của TP.HCM đặt ra nhiều thách thức và cần sự điều chỉnh mạnh trong các quý tiếp theo.
Nhìn rộng hơn, ông Phạm Quang Vinh - Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Mỹ nhìn nhận tác động kéo dài theo chu kỳ phục hồi của chuỗi cung ứng.
“Ngay cả khi chiến sự kết thúc, hệ lụy vẫn kéo dài do cơ sở sản xuất dầu khí bị ảnh hưởng và chuỗi cung ứng cần thời gian phục hồi. Trong khoảng 3-6 tháng tới, tính bất ổn vẫn còn hiện hữu. Đồng thời, các yếu tố như chính sách thuế của Mỹ cũng tạo thêm áp lực. Doanh nghiệp đang đối mặt với nhiều rủi ro cùng lúc trong hoạt động sản xuất và thương mại”.
Ở trong nước, tác động thể hiện rõ qua chi phí vận tải. Theo phân tích của Bộ Xây dựng, nhiên liệu chiếm khoảng 30-40% tổng chi phí vận hành trong vận tải hàng hải và đường thủy. Khi giá nhiên liệu tăng, giá cước vận tải điều chỉnh theo, với mức tăng ghi nhận từ 10–30% tại nhiều địa phương.
Trong lĩnh vực hàng không, áp lực lan sang năng lực vận chuyển và chi phí khai thác. Cảng Hàng không quốc tế Nội Bài ghi nhận mức giảm công suất khoảng 20% trong một số thời điểm, trong khi giá cước hàng không tăng 50-70% ở các giai đoạn cao điểm.
Đặt trong tổng thể chuỗi cung ứng, ông Đào Trọng Khoa - Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA) cho rằng doanh nghiệp đang phải điều chỉnh cách vận hành để thích ứng với trạng thái mới của thị trường.
“Chi phí tăng nhanh, thời gian vận chuyển biến động và rủi ro hợp đồng gia tăng đang tạo áp lực trực tiếp lên doanh nghiệp. Hành trình kéo dài làm thay đổi kế hoạch giao hàng và ảnh hưởng đến uy tín với khách hàng. Chuỗi cung ứng cần được tổ chức lại theo hướng linh hoạt để duy trì khả năng vận hành”.
Mở nguồn năng lượng, tái cấu trúc chuỗi cung ứng
Những tác động trên cho thấy yêu cầu điều chỉnh không chỉ dừng ở doanh nghiệp mà còn đặt ra ở cấp chính sách. Trong bối cảnh năng lượng trở thành biến số trung tâm, ông Phạm Quang Vinh nhấn mạnh việc xem xét lại cấu trúc nhập khẩu.

“Cần thay đổi cấu trúc thị trường nhập khẩu xăng dầu và khí. Mỹ là nguồn cung lớn, ngoài ra có thể cân nhắc Mexico và các nước châu Phi. Việc đa dạng hóa nguồn cung giúp giảm phụ thuộc và tạo dư địa ổn định chi phí đầu vào cho nền kinh tế”, ông Vinh nhấn mạnh.
Ở cấp điều hành ngành, ông Nguyễn Khắc Hiếu cho rằng yếu tố thông tin và khả năng dự báo đóng vai trò quan trọng trong giai đoạn hiện nay. Cần theo dõi sát diễn biến thị trường, cập nhật thường xuyên biến động năng lượng và logistics. Nguồn cung cần được bảo đảm ổn định. Việc cung cấp thông tin kịp thời và cảnh báo sớm giúp doanh nghiệp chủ động điều chỉnh kế hoạch sản xuất và giao nhận”
Từ góc độ chuỗi cung ứng, ông Đào Trọng Khoa nhấn mạnh đến việc điều chỉnh cấu trúc vận hành. Doanh nghiệp cần rà soát hợp đồng, đặc biệt là các điều khoản liên quan đến bất khả kháng, thay đổi hành trình và bảo hiểm. Cần xây dựng nhiều phương án vận chuyển và theo dõi vận hành theo thời gian thực để kiểm soát rủi ro và chi phí. Những điều chỉnh này giúp doanh nghiệp duy trì khả năng giao hàng trong điều kiện thị trường biến động, đồng thời giảm thiểu các chi phí phát sinh ngoài kế hoạch.
Gắn với bức tranh chung của thành phố, ông Phạm Bình An cho rằng các giải pháp ở cấp địa phương cần tập trung vào việc tháo gỡ điểm nghẽn và hỗ trợ doanh nghiệp duy trì hoạt động.
“Thành phố cần tháo gỡ các điểm nghẽn về hạ tầng, thủ tục và chi phí logistics. Doanh nghiệp cần được hỗ trợ đa dạng hóa thị trường, cơ cấu lại nguồn cung và nâng cao năng lực chống chịu. Việc duy trì sản xuất, giữ đơn hàng và ổn định thị trường sẽ quyết định khả năng phục hồi trong thời gian tới”.
Những biến động từ xung đột Trung Đông đang định hình lại cách vận hành của doanh nghiệp và nền kinh tế. TP.HCM ghi nhận tác động rõ ở các ngành xuất khẩu chủ lực với mức giảm tăng trưởng và kim ngạch đã được lượng hóa. Trong bối cảnh này, việc chủ động nguồn cung năng lượng, kiểm soát chi phí logistics và tổ chức lại chuỗi cung ứng trở thành nền tảng để duy trì hoạt động sản xuất và ổn định tăng trưởng trong các quý tiếp theo.