Toàn cảnh

Thuế đối ứng của Mỹ: Kịch bản sau phán quyết của Tối cao Pháp viện (Bài 1)

Hưng Khánh 05/03/2026 - 10:20

“Phán quyết của Tối cao Pháp viện hôm 20/2 vừa tái khẳng định nguyên tắc phân quyền trong Hiến pháp Mỹ, vừa đặt chính sách thương mại của Washington vào một giai đoạn nhiều bất định pháp lý hơn bao giờ hết”, GS Nguyễn Thu Trang - Đại học Luật Temple; Viện Nghiên cứu Luật Hoa Kỳ - Châu Á, ĐH Luật New York nhận định.

Chia sẻ tại webinar với chủ đề "Thuế đối ứng của Mỹ: Kịch bản sau phán quyết của Tối cao Pháp viện và khuyến nghị cho doanh nghiệp Việt", do Tạp chí Doanh Nhân Sài Gòn và Viện Sáng kiến Việt Nam tổ chức sáng 4/3, GS Nguyễn Thu Trang nhận định, phán quyết ngày 20/2 của Tòa án Tối cao Hoa Kỳ có tác động đáng kể tới chính sách thuế quan của chính quyền Tổng thống Donald Trump.

Theo đó, trọng tâm của phán quyết nằm ở việc tòa xác định Đạo luật Quyền lực Kinh tế Khẩn cấp Quốc tế (IEEPA) không trao cho Tổng thống quyền áp đặt thuế quan mà theo Hiến pháp Mỹ, quy định quyền ban hành và thu thuế thuộc về Quốc hội. Hệ quả là toàn bộ các gói thuế dựa trên IEEPA bao gồm thuế đối ứng và một số biện pháp áp với Trung Quốc, Canada, Mexico… trong đó có Việt Nam đều bị vô hiệu hóa.

Dù vậy, bà Trang cho rằng phán quyết này không đồng nghĩa với việc Tổng thống mất hoàn toàn công cụ thuế quan. Trong “hộp công cụ” thương mại của nhánh hành pháp vẫn còn nhiều cơ chế khác, đáng chú ý là các điều khoản 122, 301 và 232 trong các đạo luật thương mại liên quan. Thực tế, ngay sau phán quyết, Tổng thống Trump đã kích hoạt Điều khoản 122. Quy định này cho phép áp thuế phụ trội tạm thời tối đa 15% trong thời hạn 150 ngày, khi Mỹ gặp vấn đề nghiêm trọng về cán cân thanh toán quốc tế.

“Từ góc độ hiến định, phán quyết của Tòa án Tối cao đã khép lại “đường tắt” IEEPA, buộc nhánh hành pháp phải quay về những cơ chế có giới hạn và quy trình chặt chẽ hơn. Tuy nhiên, nó không chặn toàn bộ chính sách thuế của Nhà Trắng. Ngược lại, một mặt trận pháp lý mới đã mở ra, với nhiều câu hỏi chưa có lời giải: Doanh nghiệp có được hoàn thuế đã nộp hay không, nếu hoàn thì phân bổ thế nào trong chuỗi cung ứng; các cuộc đàm phán thuế quan với Mỹ sẽ diễn biến ra sao; và liệu những công cụ thay thế có tiếp tục bị thách thức tại tòa án”, bà Trang nhấn mạnh.

Nhìn rộng hơn vào bối cảnh nước Mỹ, GS Nguyễn Đức Khương - Trường Kinh doanh Leonard de Vinci (Pháp), Chủ tịch sáng lập Tổ chức Khoa học và Chuyên gia Việt Nam toàn cầu (AVSE Global), cho rằng dù nước Mỹ nổi tiếng với cơ chế tam quyền phân lập và hệ thống kiểm soát quyền lực chặt chẽ, thực tiễn hơn một thế kỷ qua cho thấy quyền hành pháp có xu hướng mở rộng sau mỗi giai đoạn khủng hoảng. Từ Đại suy thoái những năm 1930, Thế chiến II, Chiến tranh Lạnh cho tới đại dịch Covid-19, các Tổng thống Mỹ thường viện dẫn tình trạng khẩn cấp quốc gia để đề xuất Quốc hội trao thêm thẩm quyền.

Trong bối cảnh thế giới nhiều bất ổn hiện nay, khi Washington muốn củng cố và bảo vệ vị thế số một, Tổng thống Donald Trump có động lực chính trị rõ ràng để tận dụng tối đa các công cụ hành pháp, từ thương mại đến an ninh. Điều này làm dấy lên tranh luận về giới hạn quyền lực: Liệu các quyết định áp thuế, điều động quân sự hay đóng băng chi tiêu có cần sự phê chuẩn của Quốc hội hay không.

Một yếu tố khác được nhấn mạnh là năng lực giám sát của Quốc hội Mỹ những năm gần đây suy yếu do phân cực đảng phái sâu sắc. Khi cơ chế đối trọng không vận hành hiệu quả, quyền hành pháp trong các tình huống khẩn cấp càng có xu hướng “phình to”. Trong cách điều hành, ông Trump được ví như một CEO đang xử lý bài toán nợ công cao và sức ép cạnh tranh chiến lược, đồng thời phải dung hòa mong muốn “nước Mỹ mạnh trở lại” của cử tri với trật tự kinh tế - chính trị toàn cầu hình thành sau năm 1945.

Ảnh màn hình 2026-03-04 lúc 16.27.30
Tổng thống Donald Trump. Ảnh minh hoạ.

Ở góc nhìn kinh tế, TS. Đinh Trường Hinh - Chủ tịch Công ty EGAT, nguyên Chuyên gia kinh tế Cao cấp Ngân hàng Thế giới cho rằng cốt lõi vấn đề không chỉ nằm ở tranh luận hiến định, mà ở tư duy nhất quán của ông Trump về thuế quan suốt nhiều thập niên. Theo ông Hinh, việc sử dụng thuế như công cụ trung tâm để xử lý thâm hụt thương mại đã là lập trường xuyên suốt của ông Trump từ hàng chục năm trước và khó có khả năng thay đổi.

Ông Hinh cũng viện dẫn những số liệu cho thấy mức thuế suất hiệu dụng của Mỹ tính bằng tổng thuế quan trên tổng giá trị nhập khẩu đã tăng mạnh kể từ khi ông Trump trở lại Nhà Trắng. Đến cuối năm 2025, thuế suất hiệu dụng áp lên hàng hóa Trung Quốc lên tới khoảng 38%, trong khi Việt Nam ở mức 12-13%. Sau phán quyết ngày 20/2, khi IEEPA bị vô hiệu hóa, chính quyền chuyển sang mức thuế toàn cầu 15%, khiến thuế bình quân giảm nhẹ khoảng 1 điểm phần trăm. Tuy nhiên, điều đáng chú ý là cán cân thương mại hàng hóa của Mỹ hầu như không cải thiện. Năm 2024 và 2025, thâm hụt hàng hóa vẫn quanh mức 1.200 tỷ USD. Dù Mỹ có thặng dư dịch vụ khoảng 300 tỷ USD mỗi năm, tổng thể cán cân thương mại vẫn âm lớn. Theo ông Hinh, thực tế này cho thấy dù sử dụng đạo luật nào, chính quyền ông Trump nhiều khả năng vẫn tiếp tục đẩy mạnh các biện pháp thuế quan để thu hẹp thâm hụt thương mại - mục tiêu được xem là ưu tiên chiến lược.

“Tóm lại, sau phán quyết của Tòa án Tối cao, cuộc chơi chưa dừng lại. IEEPA có thể đã bị loại khỏi bàn cờ, nhưng cả động lực chính trị lẫn mục tiêu kinh tế của Nhà Trắng vẫn còn nguyên. Và điều đó đồng nghĩa với việc mặt trận pháp lý cũng như mặt trận thương mại sẽ còn tiếp tục nóng lên trong thời gian tới”, ông Hinh dự báo.

GS. Nguyễn Thu Trang: Xác suất cao Mỹ sẽ kích hoạt đồng thời nhiều công cụ thuế thay thế

Rất khó khẳng định mức thuế trong thời gian tới sẽ cao hơn hay thấp hơn. Tuy nhiên, xét về khía cạnh pháp lý, khả năng cao phía Hành pháp Mỹ sẽ kích hoạt các công cụ khác để thay thế áp lực từ gói thuế đối ứng trước đây.

GS. Nguyễn
GS. Nguyễn Thu Trang

Cụ thể, bên cạnh Điều khoản 122 đã được áp dụng, Washington hoàn toàn có thể đẩy nhanh các cơ chế như Điều khoản 301 về hành vi thương mại không công bằng, 232 liên quan đến an ninh quốc gia, 338 về phân biệt đối xử thương mại, hay 201 về thuế tự vệ. Đáng chú ý, ngay sau phán quyết của Tòa án Tối cao, Đại diện Thương mại Mỹ (USTR) đã tuyên bố xúc tiến nhanh điều tra theo Điều khoản 301 và tiếp tục duy trì các vụ việc theo 232. Các công cụ có phạm vi càng rộng thì rủi ro pháp lý càng lớn. Ngược lại, những cơ chế như 301 hay 232 tuy mất thời gian điều tra và phạm vi hẹp hơn nhưng lại có nền tảng pháp lý bền vững hơn. Vì vậy, kịch bản có khả năng xảy ra nhất là chính quyền của Donald Trump sẽ kết hợp nhiều công cụ cùng lúc nhằm tái tạo mức độ gây áp lực tương đương gói thuế đối ứng trước đây.

GS. Nguyễn Đức Khương: Ba kịch bản và “150 ngày bản lề”

Ông Nguyễn Đức Khương
Ông Nguyễn Đức Khương

150 ngày áp thuế đồng bộ hiện nay chỉ là giai đoạn chuyển tiếp. Ba kịch bản có thể xảy ra: Quốc hội gia hạn chính sách này; Chính phủ Mỹ sử dụng các điều khoản khác nhau như 301, 232, 338 để áp dụng linh hoạt theo từng quốc gia, từng ngành; hoặc mọi thứ quay lại trạng thái trước tháng 4/2025. Trong ba kịch bản, tôi nghiêng về khả năng thứ hai tức là Mỹ sẽ đa dạng hóa công cụ pháp lý để duy trì áp lực thương mại, đồng thời bảo hộ có chọn lọc các ngành sản xuất trong nước.

Doanh nghiệp Việt Nam cần tận dụng “khoảng đệm” 150 ngày này để rà soát chiến lược, bởi xu hướng siết chặt thương mại nhiều khả năng sẽ mang tính liên tục thay vì nhất thời.

TS. Đinh Trường Hinh: Việt Nam sẽ chịu áp lực song phương nhiều hơn sau tháng 7/2026:

TS. Đinh Tru
TS. Đinh Trường Hinh

Từ góc nhìn riêng về Việt Nam, yếu tố then chốt là mức thâm hụt thương mại rất lớn của Mỹ với Việt Nam - hiện đứng thứ ba toàn cầu, chỉ sau Trung Quốc và Mexico. Với quy mô dân số khoảng 100 triệu người nhưng thặng dư thương mại lên tới 172 tỷ USD năm 2025, áp lực điều chỉnh là điều khó tránh. Giai đoạn 150 ngày chỉ là “placeholder” - một khoảng đệm tạm thời. Sau khi Điều khoản 122 hết hiệu lực vào tháng 7/2026, khả năng cao Mỹ sẽ quay lại khung đàm phán song phương và gia tăng sức ép dựa trên các cam kết trước đó, thay vì áp thuế đại trà.

Đối với vấn đề trung chuyển hàng hóa từ Trung Quốc qua Việt Nam, việc áp thuế riêng cho “hàng trung chuyển” sẽ gặp khó khăn về cơ sở pháp lý cũng như cách định nghĩa giá trị gia tăng. Vì vậy, khả năng cao chủ đề này sẽ dần lắng xuống. Về dài hạn, doanh nghiệp Việt Nam phải chủ động giảm chi phí, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu và chuẩn bị cho một môi trường thương mại biến động, thay vì trông chờ vào sự nới lỏng chính sách từ phía Mỹ.

Ông Hoàng Việt Dũng - Chuyên gia tư vấn Thuế và Hải quan, Managing Partner tại TLA Consulting, UV BCH Hội các Nhà quản trị doanh nghiệp Việt Nam (VACD):

z7564891500367_d1242500ccd03a0adcf8c3f6913c00a6.jpg
Ông Hoàng Việt Dũng

Có thể nhìn thấy một yếu tố tích cực nhất định trong bối cảnh hiện nay là thay vì các mức thuế phân biệt, thay đổi bất ngờ theo từng quốc gia như giai đoạn trước, chính sách mới đang có xu hướng áp dụng đồng đều hơn. Việc hạn chế tình trạng thiếu ổn định và đôi khi gắn với những vấn đề ngoài kinh tế, phần nào tạo ra tính dự báo tốt hơn cho doanh nghiệp. Bên cạnh đó, ngoài IEEPA đã bị vô hiệu hóa, các công cụ mà chính quyền Tổng thống Trump đang xem xét đều có giới hạn rõ ràng hơn về mức thuế, phạm vi, thời gian áp dụng và yêu cầu tham vấn hoặc phê duyệt của Quốc hội. Ở góc độ này, nhánh hành pháp phần nào bị “hãm phanh” sau phán quyết của Tòa án Tối cao Hoa Kỳ. Đây có thể xem là một “khoảng dừng để thở” giữa bối cảnh nhiều biến động. Tuy nhiên, không nên lạc quan quá mức vì việc IEEPA bị bác bỏ không có nghĩa toàn bộ chính sách thương mại theo hướng “Nước Mỹ trên hết” bị dừng lại; nhiều biện pháp khác vẫn được duy trì.

Nổi bật
Đọc nhiều
Thuế đối ứng của Mỹ: Kịch bản sau phán quyết của Tối cao Pháp viện (Bài 1)
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO