Một trong những điểm yếu của nền kinh tế nước ta nói chung và lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản nói riêng là đầu tư mang tính chất phong trào. Sau thất bại của các phong trào đầu tư xây dựng nhà máy xi măng lò đứng, nhà máy đường, trồng chè, cà phê ở phía Bắc, nuôi tôm trên cát ở miền Trung... giờ đây lại đang diễn ra cuộc chạy đua đầu tư dự án thủy điện.
Đơn cử chỉ riêng trên hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn thuộc tỉnh Quảng Nam có tới 46 dự án thủy điện đã được phê duyệt từ năm 2006 (gồm 8 nhà máy có công suất 30 MW, 38 dự án công suất từ 10 MW đến dưới 30 MW).Mới đây Bộ Công Thương lại bổ sung 11 dự án thủy điện nữa, nâng tổng số dự án đầu tư thủy điện trên địa bàn Quảng Nam lên tới 57; tính ra bình quân mỗi huyện miền núi của tỉnh này “gánh” tới 9 dự án thủy điện!
Nhưng tình trạng lạm phát dự án thủy điện không chỉ xảy ra ở Quảng Nam. Phong trào đầu tư xây dựng thủy điện ở Lâm Đồng có vẻ còn “xôm” hơn cả Quảng Nam. Đến nay, Lâm Đồng đã quy hoạch tới 91 dự án thủy điện với tổng công suất 502 MW. Các tỉnh miền núi khu vực miền Trung - Tây Nguyên khác như Gia Lai, Đắc Lắc, Kon Tum, Quảng Trị... mỗi nơi không dưới một chục dự án xây dựng nhà máy thủy điện, thậm chí là “chen lấn” nhau.
Việc qui hoạch các dự án thủy điện dày đặc như thế, mặc dù trước mắt sẽ mang lại hiệu quả kinh tế trong hoàn cảnh nước ta đang thiếu điện gay gắt, nhưng về lâu dài sẽ nảy sinh những bất ổn rất đáng lo ngại. Trong đó, đáng báo động nhất là toàn bộ hệ sinh thái của các tỉnh miền núi - cũng là đầu nguồn của các con sông chảy xuống vùng đồng bằng miền Trung bị đảo lộn vì bị mất phần lớn diện tích rừng, dẫn đến những biến đổi sâu sắc về môi trường, khí hậu không thể khắc phục được.
Riêng các dự án thủy điện trên hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn, nhiều chuyên gia đã cảnh báo: việc chặn dòng, ngăn hồ, xóa sổ rừng ở thượng nguồn ắt sẽ phải trả giá do gây ra thiếu hụt nước sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp, phục vụ du lịch ở hạ lưu, thậm chí thiếu nước ngay ở chính địa bàn ven biển của tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng. Đấy là chưa kể hàng ngàn tỷ đồng vốn đầu tư đã đổ vào các chương trình 134, 135 và nhiều dự án phục vụ ổn định sản xuất, xóa đói giảm nghèo cho đồng bào miền núi trong những năm qua cũng sẽ bị xóa sạch.
Bởi các bài học cũ đều cho thấy: khi dự án thủy điện triển khai đến đâu thì người dân sở tại phải bỏ làng, bỏ rẫy đi vào vùng sâu vùng xa, khó khăn hơn... Ngay như thủy điện A Vương (Quảng Nam), mặc dù đã xây dựng khu tái định cư khá tốt nhưng bà con dân tộc vẫn bỏ vào vùng sâu phá rừng làm rẫy, trở lại cảnh đói nghèo và chính quyền địa phương lại phải lo cứu trợ!
NGUYỄN VĂN HÙNG