![]() |
Văn học lịch sử xuất hiện, đặt độc giả vào thế tiến thoái lưỡng nan khi đọc tác phẩm, họ day dứt không kém gì các nhà văn khi chọn con đường sáng tạo quá chông gai này. Độc giả thuộc nhiều tầng văn hóa, vị thế xã hội đang bối rối trước những giá trị đã định hình về lịch sử có nguy cơ lung lay vì sự hư cấu của tác phẩm văn học.
Chính sử và văn học trong mắt độc giả
![]() |
Hiện nay đang diễn ra cuộc tranh luận về giải nhất Cuộc thi Tiểu thuyết của Hội Nhà văn Việt Nam dành cho cuốn Hội thề (Nguyễn Quang Thân) giữa những người bảo vệ chính sử, đại diện cho các giá trị cộng đồng đã định hình, và các nhà văn thường đưa những chi tiết hư cấu vào tác phẩm.
Không những ca ngợi tướng giặc Minh, cuốn sách còn hạ bệ tướng lĩnh và nghĩa quân Lam Sơn. Thế nên nhà văn bị kết tội là đã hư cấu quá đà, cố tình thể hiện những cảm nhận cá nhân, trải nghiệm riêng và dùng văn học để “soi xét” lịch sử.
Nhà văn Hoàng Tiến phát biểu chính kiến: “Một cuốn sách như thế mà Ban giám khảo trao giải nhất, có phải do bị sức ép không?”.
Nhà văn Trần Mạnh Hảo có bài viết dài về Hội thề, nêu chi tiết theo ông là sai về số liệu, sai lệch chính sử ghi nhận giặc Minh với tội ác “diệt chủng văn hóa, xóa sổ nền văn minh của nước Đại Việt. Làm sao tác giả có thể “buộc” Nguyễn Trãi khinh bỉ các tướng lĩnh nông dân đã thấy rõ bi kịch trí thức thành Thăng Long ngay trong đêm trước của hội thề Đông Quan?
Có lẽ rất cần một cuộc tranh luận mang tính học thuật văn học, hoặc sự phân tích của các nhà nghiên cứu sử về vị trí của nhà văn, về cái tâm và cái tầm người cầm bút cần có để đem lại cho văn học một tác phẩm lớn.
Chưa có thành viên nào trong Ban giám khảo lên tiếng chứng minh tiểu thuyết Hội thề được chọn trao giải nhất là hoàn toàn đúng, đời sống văn học rất cần những tiếng nói ấy.
Chúng ta có thể bắt gặp trong điện ảnh, văn học phương Tây một tổng thống bị ám sát, một chính phủ đương nhiệm định xóa sổ một quận chuyên chứa dân nhập cư bằng cách vi phạm luật mà không hề thấy phản cảm.
Những tác phẩm ấy vẫn thuyết phục được người xem và họ chỉ tiếp nhận những thông điệp gửi đến cuộc sống của tác phẩm, chứ không xét nét từng chi tiết có đúng với thực tế không để rồi phê phán vĩ nhân A, nhà yêu nước B tuyệt đối không thể có hành vi “đời thường” như thế.
Nhưng văn hóa Việt Nam có những đặc điểm riêng, một giai đoạn “văn nghệ minh họa” kéo dài đã tạo cho chúng ta nếp nghĩ: tất cả những gì sách viết ra phải tôn trọng sự thật.
Nhưng sự thật đó là sự thật nào, dựa trên quan điểm nào để định hình sự thật cũng đủ phức tạp rồi. Có người dựa vào tính chân-thiện-mỹ để bảo vệ những giá trị cộng đồng hết sức quen thuộc, muốn nhà văn tiếp tục “thánh hóa” nhiều nhân vật lịch sử.
Chúng ta cũng biết, Nguyễn Huy Thiệp với bộ ba truyện Kiếm sắc, Vàng lửa, Phẩm tiết, và Sương Nguyệt Minh với tác phẩm Dị hương là hai nhà văn được đông đảo độc giả yêu mến, đồng thời cũng bị một số người lên án do quan điểm của hai phía quá khác biệt.
Những tác phẩm gây tranh luận đều đạt giá trị cải tiến trong ngôn ngữ, đa diện trong ý tưởng tạo nhân vật, hấp dẫn. Vì thế, người khen thì khen hết lời, còn người chê cũng có thể viết hàng chục bài phê bình mà vẫn chưa... hả giận vì nhà văn bạo gan, dám hạ bệ thần tượng lịch sử!
Tiến thoái lưỡng nan
Cái khó khăn nhất đối với các nhà văn Việt Nam là cố gắng không bước qua lằn ranh hẹp giữa sáng tạo và hư cấu, là khi cố “thử thách dân trí” bằng tác phẩm viết về lịch sử không trùng khít với chính sử.
Nhà văn khi đã quyết định cầm bút viết, tất nhiên không chấp nhận đánh mất mình trong một tác phẩm viết cẩu thả, đề tài tư tưởng minh họa cho chính sử.
Nhà thơ Đoàn Huy Giao: Sản phẩm của hư cấu văn học Tính xác thực của những chi tiết lịch sử trong tiểu thuyết không thể kiểm chứng. Trước hết, chi tiết là sản phẩm của hư cấu văn học. Thứ hai, nó thuộc về những trải nghiệm cá nhân và có tính cá biệt. Những câu hỏi về tính xác thực của những trải nghiệm cá nhân và những hiện tượng cá biệt sẽ luôn là những câu hỏi khó trả lời xác quyết. Lạc lối trong những câu hỏi về tính "có thực" của những chi tiết lịch sử người ta sẽ không thể nhìn thấy giá trị thật của một tác phẩm, ví dụ như Nỗi buồn chiến tranh: nhà văn đã suy tư về những vết thương tinh thần mà chiến tranh để lại cho một dân tộc, về sự anh hùng, về sức mạnh tinh thần thực sự của một dân tộc trong chiến tranh, về số phận con người trong chiến tranh. |
Nhà văn cần gì dụng công dựng lên một Nguyễn Trãi quen thuộc trong niềm vui của ngày chiến thắng, vì biết chắc tác phẩm sẽ trôi tuột trong sự thờ ơ của độc giả.
Nguyễn Xuân Khánh không thể thành công với Hồ Quý Ly nếu đơn giản kết án nhà Hồ là một triều đình thối nát. Bảo Ninh sao “địch” lại các nhà văn đàn anh khác nếu 20 năm sau 1975 vẫn chỉ viết Bài ca ra trận!
Qua các tiểu thuyết lịch sử nổi tiếng gần đây, người đọc nhận ra không nhiều tác phẩm thật sự theo đuổi con đường tiểu thuyết có tính văn học cao như Giàn thiêu của Võ Thị Hảo.
Một vài chương nhỏ của tiểu thuyết có dựng lại hình ảnh của Thái hậu Ỷ Lan, không phải ở những đóng góp to lớn của bà trong xây dựng đất nước, hay những đóng góp phát triển Phật giáo ở miền Bắc, mà ở thời khắc cuộc sống của bà bị ám ảnh bởi quá khứ đã từng giết Thái hậu Thượng Dương và 72 cung nữ.
Võ Thị Hảo không đặt Ỷ Lan làm nhân vật trung tâm, nhưng dụng công tiểu thuyết hóa tác phẩm và thành công trong trình bày đời sống cá nhân con người, số phận, tính cách của một loạt nhân vật trong Giàn thiêu, chứ không thiên vị nhân vật nào.
Vì thế, Ỷ Lan, nhân vật lịch sử cũng vào tầm “huyền thoại hóa” trong ý thức cộng đồng, nay xuất hiện với phần hình ảnh đen tối trong Giàn thiêu vẫn được độc giả chấp nhận. Người đọc không thấy Võ Thị Hảo có ý hạ bệ thần tượng.
Cuộc tranh luận nảy lửa quanh Hội thề trong năm 2011 cho thấy tiểu thuyết này đến với công chúng không suôn sẻ. Nó có tác dụng cảnh báo những cuốn tiểu thuyết sắp ra đời.
Đồng thời, dư luận cũng lo ngại phê bình kiểu trích dẫn tiểu tiết, lạc lối trong từng sự kiện, và đòi hỏi tìm sự thật lịch sử trong văn học sẽ làm cho văn học về đề tài lịch sử không phát triển được.

