Toàn cảnh

Cần có một liên minh Doanh nghiệp tái tạo rừng Việt Nam

AV 28/06/2026 09:10

Những cánh rừng tràm hàng chục năm tuổi tại Vườn quốc gia U Minh Hạ (Cà Mau) đang gióng lên hồi chuông cảnh báo về một thực tế ít được nhắc đến: rừng cũng có tuổi đời và sẽ già cỗi. Khi bước qua giai đoạn thành thục sinh lý, nhiều khu rừng suy giảm khả năng sinh trưởng, hấp thụ carbon kém hơn, sức chống chịu trước biến đổi khí hậu giảm sút và dễ chết hàng loạt khi gặp những tác động cộng hưởng như ngập úng kéo dài, sâu bệnh hay thời tiết cực đoan.

Theo Ban quản lý rừng U Minh Hạ cho biết, hàng nghìn hecta rừng đang suy giảm sức sống, nhiều khu vực xuất hiện những khoảng trống lớn do cây chết và ngã đổ. Đây không chỉ là câu chuyện của một vườn quốc gia mà còn phản ánh thách thức chung đối với nhiều hệ sinh thái rừng của Việt Nam trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt.

Điều đáng suy nghĩ là khi nền kinh tế đang hướng đến mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, rừng không còn đơn thuần là tài nguyên thiên nhiên mà đã trở thành một loại "tài sản khí hậu". Vì vậy, bên cạnh nhiệm vụ bảo vệ rừng hiện hữu, Việt Nam cần một chiến lược tái tạo rừng quy mô lớn với sự tham gia của cộng đồng doanh nghiệp.

Cần tư duy mới trong quản lý với rừng

Trong nhiều năm, tư duy phổ biến là giữ nguyên hiện trạng rừng càng lâu càng tốt. Tuy nhiên, quy luật sinh học cho thấy mọi hệ sinh thái đều có vòng đời. Một cánh rừng già không thể mãi duy trì khả năng hấp thụ carbon ở mức cao nếu không có quá trình tái sinh tự nhiên hoặc được phục hồi có chủ đích.

Các nhà khoa học tại Viện Khoa học Lâm nghiệp Nam Bộ xác định rằng tình trạng suy thoái ở U Minh Hạ xuất phát từ nhiều nguyên nhân cộng hưởng: chế độ ngập nước kéo dài, suy giảm chất lượng đất than bùn, sự xâm lấn của thực vật dây leo, biến đổi khí hậu và đặc biệt là nhiều lâm phần đã bước vào giai đoạn già cỗi.

Nếu không có giải pháp phục hồi, rừng sẽ tiếp tục suy thoái, làm mất khả năng hấp thụ carbon, suy giảm đa dạng sinh học và ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế của người dân sống dựa vào tài nguyên rừng.

Điều này đặt ra yêu cầu chuyển từ tư duy "giữ nguyên rừng" sang "quản trị vòng đời của rừng", nghĩa là vừa bảo tồn những khu rừng nguyên sinh có giá trị đặc biệt, vừa chủ động tái tạo các khu vực đã già cỗi hoặc suy thoái để hình thành thế hệ rừng mới.

Trong nền kinh tế carbon thấp, mỗi cánh rừng không chỉ tạo ra oxy, giữ nước hay bảo tồn đa dạng sinh học mà còn tạo ra giá trị kinh tế thông qua khả năng hấp thụ và lưu giữ carbon. Đó là lý do nhiều quốc gia đang đầu tư rất lớn cho các chương trình trồng rừng, phục hồi rừng và phát triển thị trường tín chỉ carbon.

Việt Nam cũng đang từng bước hình thành thị trường carbon theo lộ trình của Chính phủ. Khi cơ chế này vận hành đầy đủ, những dự án trồng mới và phục hồi rừng đáp ứng tiêu chuẩn sẽ có thể tạo ra tín chỉ carbon để giao dịch, mở ra nguồn tài chính bền vững cho công tác bảo tồn.

Điều đó đồng nghĩa với việc đầu tư vào rừng không còn là hoạt động mang tính từ thiện hay trách nhiệm xã hội đơn thuần mà trở thành một khoản đầu tư có khả năng tạo ra giá trị kinh tế lâu dài.

3201-1637812487850-16378124880341951744484.jpg
Cần có một liên minh Doanh nghiệp tái tạo rừng Việt Nam. Ảnh minh họa

Thành lập liên minh Doanh nghiệp tái tạo rừng tại sao không?

Việt Nam hiện nằm trong nhóm quốc gia xuất khẩu đồ gỗ lớn nhất thế giới. Mỗi năm, ngành chế biến gỗ tạo ra hàng chục tỷ USD kim ngạch xuất khẩu và sử dụng nguồn nguyên liệu khổng lồ. Trong khi đó, các thị trường nhập khẩu ngày càng yêu cầu khắt khe hơn về truy xuất nguồn gốc, chống mất rừng, giảm phát thải carbon và thực hiện các tiêu chuẩn ESG.

Điều này đặt ra một câu hỏi lớn: doanh nghiệp sẽ tiếp tục chỉ là người tiêu dùng tài nguyên, hay sẽ trở thành người kiến tạo tài nguyên? Thay vì chỉ mua gỗ từ các thị trường, các doanh nghiệp hoàn toàn có thể đầu tư ngay từ đầu vào các chương trình tái tạo rừng, hợp tác với địa phương, các ban quản lý rừng và cộng đồng dân cư để hình thành vùng nguyên liệu bền vững.

Sau chu kỳ sinh trưởng phù hợp, những cánh rừng sản xuất này sẽ trở thành nguồn nguyên liệu hợp pháp, ổn định và có khả năng truy xuất nguồn gốc đầy đủ cho ngành chế biến gỗ. Đó có thể là cách xây dựng chuỗi cung ứng khép kín, giảm phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu và nâng cao sức cạnh tranh của ngành gỗ Việt Nam.

Đã đến lúc cần một sáng kiến quy mô quốc gia mang về nội dung này. Đây không chỉ là một tổ chức mang tính biểu tượng mà cần trở thành nền tảng hợp tác giữa Nhà nước, doanh nghiệp, các hiệp hội ngành nghề, tổ chức tài chính, các quỹ đầu tư xanh và các tổ chức bảo tồn. Các thành viên có thể bao gồm doanh nghiệp chế biến gỗ (như Hiệp hội chế biến gỗ và nội thất TP.HCM - HAWA), doanh nghiệp bất động sản, ngân hàng, doanh nghiệp năng lượng, logistics, bán lẻ, du lịch và những ngành có nhu cầu thực hiện mục tiêu giảm phát thải.

Thông qua liên minh, doanh nghiệp có thể đóng góp kinh phí trồng rừng, đầu tư phục hồi những khu rừng suy thoái, nhận quyền tham gia các dự án tín chỉ carbon, đồng thời thực hiện các mục tiêu ESG và giảm phát thải trong chuỗi giá trị của mình. Đây sẽ là mô hình hợp tác công - tư quy mô lớn, huy động nguồn lực xã hội thay vì chỉ trông chờ vào ngân sách Nhà nước.

Nếu mỗi doanh nghiệp coi việc trồng rừng là một phần trong chiến lược phát triển, nếu mỗi hiệp hội ngành nghề xem việc tái tạo tài nguyên là cam kết đối với tương lai, thì liên minh Doanh nghiệp tái tạo rừng sẽ không chỉ là một sáng kiến, mà có thể trở thành một phong trào kinh tế xanh mang tầm quốc gia.

Và khi ấy, mỗi cây xanh được trồng hôm nay sẽ không chỉ hấp thụ carbon, bảo vệ môi trường hay tạo ra nguồn nguyên liệu cho mai sau, mà còn trở thành minh chứng cho một thế hệ doanh nhân Việt Nam biết tạo dựng giá trị bền vững song hành cùng tăng trưởng kinh tế.

AV