Nâng cao năng lực chuyển hóa nguồn lực địa phương
Với một TP.HCM sau sáp nhập quy tụ 1/3 số doanh nghiệp cả nước, bài toán không còn nằm ở mở rộng nguồn lực, mà ở năng lực điều hành kinh tế để chuyển hóa hiệu quả các nguồn lực đó thành năng suất, đổi mới sáng tạo và động lực tăng trưởng mới.
Thành phố cần tự… chuyển hóa nguồn lực
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp không tách rời môi trường mà nó vận hành - phụ thuộc trực tiếp vào năng lực cạnh tranh của địa phương. Mà năng lực cạnh tranh của địa phương lại phụ thuộc vào khả năng khai thác, kết nối và chuyển hóa nguồn lực thành giá trị gia tăng. Thực tiễn thế giới cho thấy các địa phương phát triển nhanh và bền vững thường chuyển hóa hiệu quả nguồn lực thành năng suất, công nghệ, đổi mới sáng tạo và lợi thế cạnh tranh.
TP.HCM hội tụ nhiều lợi thế của một trung tâm kinh tế hiện đại, từ quy mô thị trường, nguồn nhân lực, hệ thống đại học và viện nghiên cứu đến cộng đồng doanh nghiệp năng động và khả năng thu hút đầu tư. Tuy nhiên, kết quả phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, cho thấy điểm nghẽn chủ yếu nằm ở năng lực tổ chức, kết nối và chuyển hóa nguồn lực.
Trước hết, khả năng chuyển hóa tri thức thành công nghệ và giá trị thị trường còn hạn chế. Thành phố tập trung nhiều trường đại học, viện nghiên cứu và chuyên gia hàng đầu, nhưng kết quả nghiên cứu được chuyển giao, thương mại hóa và đưa vào sản xuất còn ít. Số doanh nghiệp làm chủ công nghệ lõi, sở hữu tài sản trí tuệ, xây dựng thương hiệu quốc tế và tham gia các khâu có giá trị gia tăng cao vẫn hạn chế. Điều này phản ánh sự liên kết chưa chặt chẽ giữa nghiên cứu, đào tạo và nhu cầu đổi mới của doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, khả năng chuyển hóa vốn thành năng lực sản xuất mới còn hạn chế. Cơ cấu phân bổ vốn còn chưa cân đối; các lĩnh vực có khả năng sinh lợi ngắn hạn thường thuận lợi hơn trong thu hút vốn, trong khi sản xuất, đổi mới công nghệ và các dự án dài hạn còn gặp nhiều rào cản. Thị trường vốn dài hạn chưa phát triển, doanh nghiệp phụ thuộc nhiều vào tín dụng ngân hàng, còn cơ chế cho vay nặng về tài sản bảo đảm và chưa phù hợp với rủi ro của các dự án đổi mới sáng tạo. Chi phí vốn cao làm hạn chế đầu tư mở rộng sản xuất và công nghệ, đòi hỏi nâng cao hiệu quả dẫn vốn vào sản xuất, kinh doanh và đổi mới sáng tạo.
Nguồn nhân lực chưa được chuyển hóa đầy đủ thành năng suất và đổi mới sáng tạo. Quy mô đào tạo lớn nhưng cơ cấu ngành nghề, chất lượng kỹ năng và khả năng đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp còn hạn chế. Động lực đổi mới chương trình, nâng cao chất lượng nghiên cứu và gắn đào tạo với nhu cầu thị trường lao động tại một số cơ sở còn chưa đủ mạnh. Vì vậy, doanh nghiệp còn thiếu nhân lực công nghệ, quản trị và nghiên cứu phát triển, trong khi một bộ phận lao động được đào tạo khó tìm việc phù hợp. Điều này phản ánh khoảng cách giữa nguồn lực giáo dục và giá trị kinh tế tạo ra.
Dư địa khai thác các lợi thế truyền thống của TP.HCM đang dần thu hẹp khi quỹ đất hạn chế, chi phí gia tăng, hạ tầng chịu áp lực lớn và lợi thế lao động chi phí thấp suy giảm. Vì vậy, thành phố cần chuyển từ mở rộng nguồn lực sang nâng cao hiệu quả sử dụng và năng lực chuyển hóa, qua đó tạo động lực tăng trưởng mới, nâng cao năng lực cạnh tranh và phát huy vai trò đầu tàu kinh tế.
Phát triển năng lực chuyển hóa nguồn lực, tạo điều kiện cho doanh nghiệp
Nâng cao năng lực chuyển hóa nguồn lực cần được xem là trọng tâm trong chiến lược nâng cao năng lực cạnh tranh. Đây là khả năng tổ chức, kết nối và đưa các nguồn lực về tri thức, vốn, con người, công nghệ và dữ liệu vào quá trình tạo ra năng suất, sản phẩm, dịch vụ và các động lực tăng trưởng mới. Từ những điểm nghẽn hiện nay, thành phố cần tập trung vào năm định hướng chủ yếu.
Thứ nhất, đổi mới thể chế và nâng cao năng lực điều phối nguồn lực. Thành phố cần đẩy mạnh phân cấp gắn với trách nhiệm giải trình, áp dụng cơ chế một đầu mối và thời hạn xử lý bắt buộc đối với các dự án sử dụng đất đai, vốn, công nghệ và tài sản công. Đồng thời, cần thành lập tổ công tác liên ngành, xây dựng nền tảng dữ liệu điều phối nguồn lực và mở rộng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với kinh tế số, kinh tế dữ liệu, kinh tế tầm thấp, kinh tế bạc, kinh tế tuần hoàn và các mô hình kinh doanh mới.
Thứ hai, thúc đẩy chuyển hóa tri thức thành công nghệ và giá trị thị trường. Thành phố cần áp dụng cơ chế doanh nghiệp đặt hàng, đấu thầu và đồng tài trợ nghiên cứu; phát triển trung tâm chuyển giao công nghệ, phòng thí nghiệm dùng chung, quỹ đổi mới sáng tạo và chương trình ươm tạo. Đồng thời, cần quy định rõ cơ chế chia sẻ lợi ích từ thương mại hóa, hỗ trợ doanh nghiệp đánh giá công nghệ, đăng ký tài sản trí tuệ, xây dựng thương hiệu và tham gia các chuỗi giá trị cao.
Thứ ba, nâng cao hiệu quả chuyển hóa vốn thành năng lực sản xuất và đổi mới sáng tạo. Thành phố cần phát triển các kênh vốn trung và dài hạn, nhất là quỹ đầu tư đổi mới sáng tạo, trái phiếu dự án và trái phiếu xanh. Đồng thời, cần thí điểm cho vay dựa trên dòng tiền, hợp đồng đầu ra, phương án kinh doanh và tài sản trí tuệ, thay vì chủ yếu dựa vào tài sản bảo đảm. Qua đó, dòng vốn được định hướng nhiều hơn vào sản xuất, R&D, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và các ngành có giá trị gia tăng cao.
Thứ tư, chuyển hóa nguồn nhân lực thành năng suất và năng lực đổi mới sáng tạo. Thành phố cần xây dựng hệ thống dự báo nhu cầu nhân lực theo ngành, gắn chỉ tiêu tuyển sinh và ngân sách đào tạo với tỷ lệ việc làm, mức thu nhập và mức độ đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp. Đồng thời, cần mở rộng cơ chế doanh nghiệp đặt hàng đào tạo, đồng xây dựng chương trình, tổ chức thực tập có trả lương và đào tạo tại nơi làm việc. Thành phố cũng cần áp dụng học bổng và chính sách thu hút chuyên gia để phát triển nhân lực công nghệ cao, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu, tài chính quốc tế, quản trị và R&D.
Thứ năm, tăng cường kết nối dữ liệu và không gian phát triển vùng. Thành phố cần xây dựng kho dữ liệu dùng chung, trung tâm điều hành vùng và nền tảng chia sẻ dữ liệu theo chuẩn thống nhất giữa các địa phương, cơ quan quản lý và doanh nghiệp. Đồng thời, cần phát triển bản đồ số về quy hoạch, đầu tư, logistics và chuỗi cung ứng; thành lập cơ chế điều phối liên vùng và các liên minh cụm ngành. Qua đó, kết nối thế mạnh tài chính, đổi mới sáng tạo và dịch vụ của TP.HCM với công nghiệp, logistics, cảng biển, năng lượng và kinh tế biển của toàn vùng.
Cốt lõi của năng lực chuyển hóa là thiết lập cơ chế kết nối hiệu quả giữa tri thức, vốn, nhân lực, công nghệ và thị trường để tạo ra giá trị mới. Vì vậy, kết quả chính sách cần được đánh giá bằng năng suất lao động, tỷ lệ thương mại hóa kết quả nghiên cứu, chất lượng việc làm và khả năng tham gia của doanh nghiệp vào các khâu có giá trị gia tăng cao. Đây là những thước đo thực chất phản ánh hiệu quả trong thời gian tới.