Toàn cảnh

Tăng trưởng 2 con số: Có thể không và bằng cách nào?

Nguyễn Tuấn Quỳnh (*) 26/05/2026 08:15

Đại hội Đảng lần thứ XIV đã khẳng định mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân 10% mỗi năm trong nhiệm kỳ này. Câu hỏi đặt ra là bằng cách nào và phải trả giá gì?

Thực trạng: Tiền bơm vào nhiều, nhưng chảy sai chỗ

Để hiểu tại sao tăng trưởng cao mà bền vững lại khó, cần hiểu một nghịch lý đang xảy ra ngay lúc này.

Trong những năm gần đây, Việt Nam liên tục bơm tiền vào nền kinh tế qua hai kênh chính: Nới lỏng tín dụng ngân hàng và đẩy mạnh đầu tư công. Tăng trưởng GDP đạt 8% năm 2025, cao nhất ASEAN, nghe có vẻ ấn tượng. Nhưng ẩn sau con số đó là một vấn đề cấu trúc nghiêm trọng: Phần lớn dòng tiền không chảy vào sản xuất, mà bị hút vào bất động sản và vàng.

Hãy hình dung nền kinh tế như một hệ thống tưới tiêu. Bơm nước vào nhiều không có nghĩa là cây trồng được tưới đều, nếu đường ống bị tắc hoặc thủng, nước sẽ chảy hết vào vũng lầy gần nhất thay vì đến được với ruộng đồng. Việt Nam hiện nay, “vũng lầy” đó chính là bất động sản và vàng, nơi tiền đổ vào không tạo ra sản phẩm, không tạo ra việc làm, chỉ đẩy giá tài sản lên cao và để lại rủi ro tích tụ cho toàn hệ thống.

Các con số xác nhận điều này một cách rõ ràng:

Tỷ lệ tín dụng trên GDP đã lên đến 145%, cao nhất ASEAN và thuộc nhóm cao nhất trong các nền kinh tế thu nhập trung bình thấp trên toàn cầu. Tín dụng bất động sản tăng 42% trong năm 2025, gần gấp đôi tốc độ tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống là 19%. Trong khi đó, tín dụng cho công nghiệp chỉ tăng 12%, cho nông nghiệp chỉ 9% - những khu vực tạo ra giá trị thực và việc làm thật.

Vòng quay tiền tệ, thước đo tốc độ tiền lưu thông trong nền kinh tế đã giảm xuống mức thấp nhất trong một thập kỷ. Nói đơn giản: Tiền bơm vào nhưng “đứng yên” trong hệ thống tài chính thay vì chạy vào sản xuất và tiêu dùng.

Hệ quả là một loạt vấn đề xảy ra đồng thời. Tiền gửi dân cư trong hệ thống ngân hàng giảm từ 48% xuống còn 44% trong năm 2025, khi người dân rút tiền chuyển sang bất động sản, đô la Mỹ, và vàng để tìm lợi suất cao hơn. Các ngân hàng thiếu vốn huy động, buộc phải tăng lãi suất tiền gửi lên 6-8%, đẩy chi phí vốn lên cao và bóp nghẹt doanh nghiệp sản xuất vốn đang cần vốn rẻ để đầu tư mở rộng.

Ở chiều ngược lại, tỷ lệ giá nhà so với thu nhập hằng năm tại nhiều khu vực đô thị đã vượt 30 lần, cao hơn nhiều so với chuẩn quốc tế 3 - 8 lần. Người lao động thu nhập trung bình ngày càng xa rời giấc mơ sở hữu nhà, không phải vì họ không cố gắng, mà vì dòng tiền đầu cơ đã chạy nhanh hơn thu nhập của họ qua nhiều năm liên tiếp. Đây không phải tăng trưởng, đây là tích lũy rủi ro.

Ông Nguyễn Tuấn Quỳnh
Ông Nguyễn Tuấn Quỳnh

Bối cảnh bên ngoài: Cú sốc không thể bỏ qua

Bất kỳ kế hoạch tăng trưởng nào cho năm 2026 mà không tính đến cú sốc dầu mỏ từ xung đột Trung Đông đều là kế hoạch thiếu thực tế.

Kể từ tháng 3/2026, xung đột tại Trung Đông đã gây ra mức tổn thất nguồn cung dầu lên đến 13 triệu thùng mỗi ngày, đẩy giá năng lượng toàn cầu tăng hơn 50%. Với Việt Nam, một nước nhập khẩu ròng dầu thô từ năm 2017, phụ thuộc vào nguồn cung Trung Đông khoảng hai phần ba tổng lượng dầu, tác động là trực tiếp và kéo dài.

Cứ mỗi khi giá dầu Brent tăng thêm 10 USD/thùng, CPI của Việt Nam tăng khoảng 0,4 điểm phần trăm. Lạm phát đã lên 5,5% trong tháng 4/2026, so với mức bình quân 3,3% của năm 2025. Chi phí vận tải tăng, giá thực phẩm tăng, chi phí đầu vào của doanh nghiệp tăng, tất cả xảy ra cùng lúc.

Điều làm phức tạp thêm là nền kinh tế Việt Nam đang không khoẻ. Dự trữ ngoại hối hiện chỉ tương đương khoảng 2 tháng nhập khẩu, thấp hơn nhiều so với mức khuyến nghị 3 tháng của IMF, và rất thấp so với Trung Quốc hay Hàn Quốc ở mức trên 120 ngày. Đồng nội tệ đã mất giá hơn 3% từ đầu năm. Tỷ lệ dự phòng tổn thất vốn vay của ngân hàng đã giảm liên tục trong ba năm qua, xuống còn 82,9%, nghĩa là năng lực hấp thụ cú sốc của khu vực ngân hàng đang suy yếu đúng vào lúc áp lực bên ngoài đang tăng lên.

Trong bối cảnh đó, tăng trưởng GDP năm 2026 được dự báo ở mức 6,8%, vẫn là con số đáng nể so với khu vực, nhưng còn cách xa mục tiêu 10% một khoảng rất lớn. Tăng trưởng 2 con số bền vững, nếu có, là câu chuyện của giai đoạn 2027-2030 và chỉ khả thi nếu các cải cách cấu trúc được thực thi nghiêm túc ngay từ bây giờ.

Năm ưu tiên cải cách: Đúng hướng và đúng trình tự

1. Ổn định kinh tế vĩ mô, nền móng của mọi thứ.

Trước khi nói đến tăng trưởng, phải giữ được ổn định. Đây không phải lý thuyết mà là bài học từ các cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á.

Trong ngắn hạn, cần cho phép tỷ giá linh hoạt hơn thay vì “bảo vệ” cứng nhắc làm cạn kiệt dự trữ ngoại hối. Song song đó, cần xây dựng các thỏa thuận hoán đổi tiền tệ song phương với các đối tác lớn như Nhật Bản, Hàn Quốc, là tấm đệm an toàn chi phí thấp mà nhiều nước ASEAN đã có nhưng Việt Nam còn thiếu.

Về lạm phát, việc chính phủ kích hoạt Quỹ Bình ổn giá xăng dầu trong tháng 3/2026 là phản ứng đúng trong giai đoạn cấp tính. Nhưng trợ giá đại trà không thể duy trì lâu dài, nó làm méo mó tín hiệu giá thị trường, tốn kém tài khóa và không bảo vệ được đúng người cần bảo vệ. Lộ trình đúng là chuyển sang hỗ trợ tiền mặt có mục tiêu cho hộ nghèo và lao động dễ bị tổn thương, đồng thời để giá thị trường phản ánh thực tế nguồn cung.

2. Xử lý nợ xấu và giải phóng dòng tiền đóng băng.

Không thể tăng trưởng 10% khi hàng triệu tỷ đồng đang nằm chết trong các dự án đắp chiếu và bảng cân đối ngân hàng. Tỷ lệ nợ xấu chính thức của hệ thống là 2,9% nhưng con số thực cao hơn khi tính thêm các khoản nợ đã được cơ cấu lại theo các thông tư đặc biệt.

Giải pháp cần thực tế. Trao cho VAMC thẩm quyền và nguồn lực thực sự để mua nợ xấu theo giá thị trường, sau đó phối hợp với các quỹ đầu tư tư nhân trong và ngoài nước để tái cấu trúc và xử lý tài sản. Đây là cách nhiều nước đã xử lý thành công khủng hoảng nợ xấu, không phải bằng cách “xóa” nợ mà bằng cách để thị trường định giá và xử lý.

Với các dự án bất động sản đình trệ, cần phân loại rõ ràng và công khai: dự án vướng thủ tục thuần túy thì áp dụng cơ chế phê duyệt nhanh có giám sát; dự án có sai phạm tài chính thực chất thì xử lý pháp lý dứt điểm rồi mới cho tiếp tục.

20250901163533-401.jpg

3. Tái cấu trúc thị trường bất động sản cần có lộ trình.

Thị trường bất động sản Việt Nam cần trật tự hóa nhưng phải theo lộ trình, không phải bằng biện pháp hành chính cứng nhắc. Nếu làm quá nhanh hoặc thiếu chuẩn bị, doanh nghiệp nhỏ phá sản hàng loạt có thể kéo theo nợ xấu ngân hàng tăng vọt và cú sốc thanh khoản lan rộng.

Cách tiếp cận đúng là nâng dần tiêu chuẩn để thị trường tự sàng lọc: Tăng yêu cầu vốn chủ sở hữu tối thiểu, siết chặt điều kiện phát hành trái phiếu doanh nghiệp bất động sản, bắt buộc xếp hạng tín nhiệm độc lập trước khi huy động vốn công chúng. Đồng thời, ưu tiên quỹ đất và tín dụng ưu đãi cho phân khúc nhà ở xã hội và bất động sản công nghiệp, những loại tài sản tạo ra giá trị kinh tế thực thay vì chỉ khuếch đại giá trị đầu cơ.

Với vàng, giải pháp khả thi không phải là cố huy động vàng vật chất của dân bằng chứng chỉ vàng, kinh nghiệm nhiều nước cho thấy tâm lý tích trữ vàng vật chất rất khó thay đổi bằng mệnh lệnh hành chính. Hướng thực tế hơn là áp thuế giao dịch để giảm động lực đầu cơ, đồng thời tạo ra các kênh đầu tư thay thế hấp dẫn và minh bạch trong thị trường vốn để dòng tiền có lựa chọn tốt hơn.

4. Củng cố hệ thống ngân hàng, thận trọng hơn là “sáp nhập nhanh”.

Tái cấu trúc ngân hàng là đúng hướng, nhưng cần cẩn trọng về cách làm. Kinh nghiệm quốc tế và ngay cả kinh nghiệm Việt Nam cho thấy sáp nhập một ngân hàng yếu vào ngân hàng khỏe nếu không được chuẩn bị kỹ sẽ làm ngân hàng nhận sáp nhập suy yếu theo, không giải quyết được gốc rễ vấn đề.

Lộ trình đúng cần ba bước đồng thời. Thứ nhất, minh bạch hóa thực trạng: Yêu cầu kiểm toán độc lập toàn diện, công bố rõ tỷ lệ nợ xấu thực, không chỉ nợ xấu kế toán mà còn cả nợ đã được cơ cấu lại. Thứ hai, áp lộ trình Basel III nghiêm túc: Hệ số an toàn vốn hiện ở mức 12,1%, thấp hơn các nước ASEAN, lộ trình đến 2030 là có nhưng cần giám sát chặt từng năm, không để chệch. Thứ ba và quan trọng nhất, cắt đứt sở hữu chéo và tín dụng “sân sau”, đây là gốc rễ của rủi ro hệ thống, quan trọng hơn bất kỳ vụ sáp nhập nào

Song song đó, phát triển thị trường vốn để giảm dần sự phụ thuộc quá mức vào tín dụng ngân hàng. Việt Nam vừa được FTSE Russell nâng hạng lên thị trường mới nổi thứ cấp, dự kiến thu hút thêm 3-5 tỷ USD trong ba năm đầu. Mục tiêu tiếp theo là MSCI. Thị trường trái phiếu doanh nghiệp cần được phát triển nghiêm túc với yêu cầu xếp hạng tín nhiệm bắt buộc và minh bạch thông tin, đây mới là kênh huy động vốn dài hạn thực sự cho nền kinh tế, thay thế dần tín dụng ngân hàng ngắn hạn vốn không phù hợp với đầu tư dài hạn.

5. Chuyển đổi mô hình tăng trưởng, FDI chất lượng và khu vực tư nhân nội địa lớn mạnh.

Đây là ưu tiên quan trọng nhất về dài hạn và cũng là khó nhất vì đòi hỏi thay đổi tư duy chính sách sâu sắc.

Việt Nam hiện đang ở thế “nền kinh tế kép” mất cân bằng nghiêm trọng: Doanh nghiệp FDI chỉ chiếm 5% tổng số doanh nghiệp nhưng tạo ra 50% giá trị gia tăng và 73% kim ngạch xuất khẩu. Trong khi đó, 98% doanh nghiệp trong nước có quy mô nhỏ, năng suất thấp và chỉ 17% tham gia xuất khẩu. Khi có cú sốc thương mại, hai khu vực này phản ứng hoàn toàn khác nhau: Xuất khẩu của khu vực FDI tăng 42% trong tháng 4/2026, trong khi xuất khẩu của khu vực trong nước giảm 24,5%, khoảng cách này không phải ngắn hạn mà là cơ cấu.

Việt Nam cần FDI, đặc biệt trong bán dẫn, hạ tầng AI và năng lượng xanh. Nhưng cần chuyển từ “trải thảm đỏ vô điều kiện” sang “FDI có cam kết”: Yêu cầu tỷ lệ nội địa hóa tăng dần theo lộ trình, ưu đãi thuế gắn với cam kết chuyển giao công nghệ và đào tạo nhân lực, xây dựng chương trình phát triển nhà cung ứng nội địa đủ năng lực tham gia chuỗi giá trị của các tập đoàn đa quốc gia.

Về khu vực tư nhân trong nước, đơn giản hóa thủ tục là cần nhưng chưa đủ. Điều doanh nghiệp vừa và nhỏ cần nhất là môi trường cạnh tranh công bằng: Tiếp cận đất đai minh bạch, không bị lấn át bởi doanh nghiệp nhà nước trên sân chơi thương mại và hệ thống tư pháp thương mại đủ hiệu quả để bảo vệ hợp đồng và giải quyết tranh chấp nhanh chóng.

Tăng trưởng 2 con số bền vững, không phải bong bóng tín dụng, không phải số liệu GDP nhờ đầu tư công một lần, đòi hỏi kỷ luật chính sách, thời gian và sự trung thực trong đánh giá.

Đầu tư công 320 tỷ USD: Đòn bẩy đúng nếu thực thi đúng

Kế hoạch đầu tư công 320 tỷ USD trong giai đoạn 2026-2030, tương đương 65% GDP năm 2025, là tham vọng lớn nhất trong lịch sử kinh tế hiện đại của Việt Nam. Đây là đòn bẩy đúng nếu thực thi tốt và là gánh nặng nguy hiểm nếu thực thi kém.

Các ưu tiên phân bổ phải rõ ràng: Đường sắt tốc độ cao, cảng trung chuyển quốc tế, hạ tầng số và chuyển dịch năng lượng tái tạo là những lĩnh vực có tác động nhân lên lớn nhất với toàn nền kinh tế. Đây không chỉ là hạ tầng vật lý mà là nền tảng cho năng suất của cả thập kỷ tới.

Nhưng nút thắt không phải là tiềnmà là năng lực thực thi. Tỷ lệ giải ngân đầu tư công năm 2025 chỉ đạt 76,9% kế hoạch. Nguyên nhân đã được nhận diện rõ: Sợ sai, thủ tục phức tạp, giải phóng mặt bằng chậm và thiếu cán bộ có năng lực quản lý dự án lớn.

Giải pháp cần đồng thời ở ba tầng: Luật hóa bảo vệ cán bộ dám quyết định trong đầu tư công hạ tầng, phân biệt rõ “sai vì tham nhũng” và “sai vì dũng cảm thực thi trong bối cảnh chính sách chưa hoàn chỉnh”; Xây dựng hệ thống thẩm định dự án độc lập với tiêu chí công khai trước khi phê duyệt và áp dụng cơ chế PPP thực chất để kéo vốn tư nhân vào hạ tầng, giảm gánh nặng ngân sách đồng thời tăng hiệu quả thực thi.

Việt Nam có đủ nền tảng để tăng trưởng 2 con số: Vị trí địa lý chiến lược trong chuỗi cung ứng toàn cầu, dân số trẻ và cần cù, độ mở thương mại cao, và một chính phủ đang có quyết tâm cải cách rõ ràng. Làn sóng “Đổi mới 2.0” với hơn 86 luật và 300 nghị định được ban hành từ đầu năm 2025 đến tháng 4/2026 là tín hiệu thực chất, không phải hình thức.

Nhưng tăng trưởng 2 con số bền vững, không phải bong bóng tín dụng, không phải số liệu GDP nhờ đầu tư công một lần, đòi hỏi kỷ luật chính sách, thời gian và sự trung thực trong đánh giá.

Trong điều kiện cú sốc dầu mỏ toàn cầu chưa qua, dự trữ ngoại hối mỏng và hệ thống ngân hàng còn nhiều điểm dễ tổn thương, mục tiêu thực tế cho năm 2026 là giữ ổn định và đặt nền móng đúng, không phải chạy đua với con số bằng mọi giá.

Tăng trưởng bình quân 10% là mục tiêu xứng đáng và hoàn toàn khả thi cho giai đoạn 2026-2030. Nhưng con đường đến đó phải đi qua năm ưu tiên cải cách nêu trên, được thực thi có trình tự, có kỷ luật và có trách nhiệm giải trình rõ ràng. Không có đường tắt nào dẫn đến tăng trưởng thực chất mà không đi qua cải cách thực chất.

(*) Chủ tịch HĐQT Saigon Books

Nguyễn Tuấn Quỳnh (*)