Toàn cảnh

Dòng vốn cho tăng trưởng đang tìm lối ra

Thanh Ngân 20/05/2026 19:55

Khi nền kinh tế bước vào chu kỳ tăng tốc mới, bài toán huy động vốn cho nền kinh tế để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số là chủ đề thu hút nhiều sự quan tâm từ giới chuyên gia, nhà quản lý và cộng đồng doanh nghiệp tại Diễn đàn Tài chính 2026 “Khơi thông dòng vốn, kết nối đa kênh” do Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp tổ chức chiều ngày 20/5.

Áp lực vốn ngày càng lớn với nền kinh tế

Giai đoạn 2026 - 2030 được xem là thời điểm xây dựng nền tảng cho chu kỳ tăng trưởng mới với nhiều mục tiêu về hạ tầng, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và thích ứng biến đổi khí hậu.

Theo các nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới và Ngân hàng Phát triển châu Á, nhu cầu vốn dành cho các dự án hạ tầng bền vững và thích ứng biến đổi khí hậu tại Việt Nam vào khoảng 15 - 17 tỷ USD mỗi năm. Nguồn lực ngân sách hiện đáp ứng khoảng 30 - 35% nhu cầu này. Khoảng vốn còn lại phụ thuộc nhiều vào khả năng huy động của khu vực tư nhân và hệ thống tài chính.

Theo ông Đỗ Thiên Anh Tuấn - Giảng viên Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright, huy động nguồn lực cho mục tiêu tăng trưởng hai con số trong năm 2026 và cả giai đoạn 2026 - 2030 là thách thức rất lớn, đặc biệt trong bối cảnh tình hình địa chính trị quốc tế tiếp tục biến động. Cấu trúc huy động vốn của Việt Nam hiện vẫn dựa chủ yếu vào ngân sách nhà nước, tín dụng ngân hàng và nguồn vốn tự có của khu vực tư nhân. Thị trường vốn hiện chưa phát huy tương xứng vai trò cung cấp nguồn lực trung và dài hạn cho nền kinh tế.

Ông Tuấn phân tích, năm 2025, tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt khoảng 4,15 triệu tỷ đồng, tương đương 32,3% GDP. Khu vực tư nhân đóng góp khoảng 17,4% GDP và trở thành nguồn lực đầu tư lớn nhất của nền kinh tế. Tuy nhiên, phần vốn tự có của khu vực này chỉ chiếm khoảng 4,8% GDP. Nhu cầu còn lại tiếp tục phụ thuộc vào hệ thống tài chính và các kênh huy động khác.

Hệ thống ngân hàng hiện vẫn giữ vai trò dẫn vốn chủ đạo. Năm 2025, tín dụng tăng gần 19,1%, đưa tổng dư nợ lên khoảng 145% GDP. Lượng tín dụng ròng bổ sung cho nền kinh tế đạt gần 3 triệu tỷ đồng, tương đương khoảng 23,2% GDP. Nguồn vốn này được phân bổ cho hoạt động sản xuất, tiêu dùng và nhiều nhu cầu khác trên thị trường.

Điều đáng nói là khả năng huy động vốn qua thị trường vốn vẫn còn khá hạn chế. Kênh cổ phiếu hiện mới đóng góp chưa đến 1,2% GDP dù đã ghi nhận mức cao nhất trong năm 2025. Quy mô phát hành trái phiếu doanh nghiệp đạt gần 630.000 tỷ đồng, tăng hơn 33% so với năm trước. Phần lớn lượng phát hành tập trung ở ngân hàng, bất động sản và chứng khoán. Khu vực sản xuất thực chất chỉ huy động được khoảng 1,7% GDP thông qua trái phiếu doanh nghiệp.

2.1 Bàn chủ toạ

Ông Hoàng Quang Phòng - Phó Chủ tịch VCCI, cho rằng nhu cầu vốn đang trở thành một trong những điểm nghẽn lớn đối với khu vực doanh nghiệp. Ông nhận định: “Trong thực tiễn vươn lên để đóng góp cho mục tiêu tăng trưởng 2 chữ số của doanh nghiệp, hiện đang tồn tại một điểm nghẽn cốt tử là thách thức về nhu cầu vốn. Để doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp vừa và nhỏ nâng cấp quy mô, đầu tư công nghệ lõi và chuyển đổi xanh nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe từ thị trường quốc tế, nhu cầu vốn trung và dài hạn là rất lớn”.

Theo ông Hoàng Quang Phòng, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp nhỏ đang gặp nhiều khó khăn trong quá trình tiếp cận nguồn lực tài chính dài hạn. Những kênh vốn mới đang mở ra nhiều cơ hội nhưng vẫn cần thêm điều kiện để doanh nghiệp tham gia hiệu quả hơn.

3.2 Ông Hoàng Quang Phòng - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) (2)
Ông Hoàng Quang Phòng - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI)

Mở rộng các mạch dẫn vốn cho chu kỳ tăng trưởng mới

Bước sang năm 2026, quy mô vốn cần huy động dự kiến tăng mạnh theo yêu cầu tăng trưởng của nền kinh tế. Với mục tiêu tăng trưởng GDP thực khoảng 10% và lạm phát ở mức 4,5%, GDP danh nghĩa dự kiến tăng gần 15%. Nếu tỷ lệ đầu tư toàn xã hội đạt khoảng 35% GDP, tổng vốn cần huy động sẽ ở mức khoảng 5,17 triệu tỷ đồng. Mức tăng này tương đương gần 25% so với năm trước và tạo thêm áp lực đối với các cân đối vĩ mô.

Theo ông Đỗ Thiên Anh Tuấn, để huy động được gần 40 triệu tỷ đồng trong 5 năm tới cần sự phối hợp của nhiều giải pháp ở cả cấp độ chính sách và thị trường. Ông cho rằng, đầu tư công tiếp tục giữ vai trò dẫn dắt và cần tập trung vào các công trình hạ tầng chiến lược có khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa lớn cho nền kinh tế. Việc phân bổ nguồn lực cần bảo đảm tính tập trung và hiệu quả đầu tư. Song hành với đó, tín dụng ngân hàng cần được duy trì ở mức hợp lý nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất và đầu tư xã hội, đồng thời kiểm soát rủi ro đầu cơ tài sản. Thị trường vốn cũng cần được cải cách mạnh hơn nhằm nâng quy mô huy động thông qua cổ phiếu và trái phiếu lên mức tương xứng với nhu cầu phát triển của nền kinh tế.

Ông Tuấn đề xuất: “Vai trò của Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) trước hết phải gắn với nhu cầu vốn dài hạn của nền kinh tế, giúp doanh nghiệp Việt Nam mở rộng kênh tài trợ cho đầu tư, đặc biệt là vốn quốc tế và phát triển sản phẩm tài chính mới. IFC cần giải quyết được những vấn đề về huy động vốn và sáng tạo tài chính cho nền kinh tế Việt Nam”.

Theo đánh giá của các chuyên gia tại diễn đàn, bên cạnh IFC, các mô hình tài chính mới như fintech, quỹ đầu tư tư nhân, quỹ đầu tư mạo hiểm, chứng khoán hóa tài sản, trái phiếu xanh và nền tảng huy động vốn số có thể tạo thêm dư địa nguồn lực cho nền kinh tế trong giai đoạn tới.

Ở góc độ doanh nghiệp, ông Trần Ngọc Liêm - Giám đốc VCCI Chi nhánh khu vực TP.HCM, cho rằng năng lực quản trị tài chính và tính minh bạch sẽ trở thành điều kiện quan trọng đối với khả năng tiếp cận vốn trong thời gian tới. Doanh nghiệp cần chủ động chuẩn hóa hệ thống kế toán, nâng cao chất lượng quản trị rủi ro và xây dựng các phương án đầu tư có tính khả thi cao. Một hệ thống quản trị tài chính hiệu quả sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực vận hành và cải thiện khả năng tiếp cận nguồn lực tài chính.

Ông cũng cho rằng doanh nghiệp cần mở rộng khả năng tiếp cận các nguồn vốn mới thông qua thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu, các quỹ đầu tư và dòng vốn xanh quốc tế. Quá trình chuyển đổi số và đáp ứng các tiêu chuẩn ESG sẽ giúp doanh nghiệp thuận lợi hơn trong việc tiếp cận các dòng vốn dài hạn và chi phí thấp. Riêng đối với thị trường trái phiếu sẽ là một trong những kênh vốn có vai trò quan trọng đối với cấu trúc tài chính trung và dài hạn của nền kinh tế.

1.8 Toàn cảnh Diễn đàn Tài chính 2026
Toàn cảnh Diễn đàn Tài chính 2026

Trong khi đó, ông Phùng Xuân Minh - Chủ tịch HĐQT PT Group và Saigon Ratings, đánh giá thị trường trái phiếu có thể giữ vai trò lớn hơn trong cấu trúc tài chính của nền kinh tế khi các tiêu chuẩn minh bạch và xếp hạng tín nhiệm được củng cố. Ông nhấn mạnh: “Trong giai đoạn 2026 - 2030, nếu Việt Nam khơi thông được ba dòng vốn gồm trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu hạ tầng giao thông và trái phiếu xanh, thị trường vốn sẽ trở thành hệ thống phân bổ niềm tin của nền kinh tế. Khi niềm tin được đo lường bằng xếp hạng tín nhiệm, minh bạch thông tin và hiệu quả sử dụng vốn, trái phiếu sẽ trở thành chìa khóa thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững”.

Theo các đề xuất tại diễn đàn, để thị trường trái phiếu phát triển bền vững cần hoàn thiện khung pháp lý cho phát hành riêng lẻ và phát hành ra công chúng, mở rộng yêu cầu xếp hạng tín nhiệm độc lập, phát triển hệ thống nhà đầu tư tổ chức và xây dựng cơ chế bảo lãnh tín dụng cho các dự án hạ tầng chiến lược.

Thanh Ngân