Toàn cảnh

Để Việt Nam đạt một triệu doanh nghiệp “một người” đến 2030

TS. Nguyễn Hữu Thi 11/05/2026 15:03

Nghị quyết số 86/NQ-CP của Chính phủ ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo đặt mục tiêu một triệu “doanh nghiệp một người” vào năm 2030. Đây là xu hướng kinh tế toàn cầu. Và tại Việt Nam, với cơ cấu dân số trẻ, tỷ lệ sử dụng smartphone cao và văn hóa kinh doanh năng động, mô hình này đang phát triển vượt tốc độ mà chính sách có thể theo kịp.

"Doanh nghiệp một người” trong kỷ nguyên số không phải là đơn vị kinh tế nhỏ bé, manh mún theo nghĩa truyền thống. Đó là những freelancer chuyên nghiệp cung cấp dịch vụ cho khách hàng quốc tế, những chuyên gia tư vấn độc lập với vốn tri thức chuyên sâu, những nhà sáng tạo nội dung đang xây dựng tài sản số có giá trị lâu dài hay những đơn vị thương mại điện tử vi mô vận hành hoàn toàn trên nền tảng kỹ thuật số. Tất cả đều chung đặc điểm: Một cá nhân duy nhất làm chủ, vận hành và chịu trách nhiệm toàn bộ chuỗi giá trị của doanh nghiệp.

Ảnh minh hoạ

Năm trụ cột chính sách

Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu một triệu “doanh nghiệp một người” vào năm 2030, cần xây dựng năm trụ cột chính sách như sau:

Hạ tầng hỗ trợ cấp cơ sở. Cần xây dựng các "trạm hỗ trợ doanh nghiệp một người" tại các khu dân cư, tận dụng nhà văn hóa, bưu điện văn hóa xã hoặc nhượng quyền cho tư nhân quản lý theo mô hình co-working trợ giá. Song song đó, cần hình thành các tổ hợp dịch vụ dùng chung theo mô hình đăng ký - nơi hàng trăm doanh nghiệp một người trong cùng khu vực chia sẻ chi phí thuê kế toán, luật sư, chuyên gia thuế. Đây là giải pháp biến bất lợi kinh tế theo quy mô thành lợi thế tập thể. Có thể tham khảo cách làm của Singapore khi chọn hướng tiếp cận hỗ trợ trực tiếp thông qua mạng lưới SME Centres, các trung tâm bố trí chuyên gia tư vấn tại từng khu dân cư để làm việc 1-1 với doanh nghiệp siêu nhỏ. Đây là mô hình đáng được nhân rộng tại Việt Nam thông qua hệ thống UBND Phường, Xã hoặc các không gian làm việc chung địa phương, vốn đang mọc lên nhanh chóng tại các đô thị lớn.

Cải cách pháp lý. Cần ban hành bộ luật thu gọn dành riêng cho doanh nghiệp siêu nhỏ, miễn trừ toàn bộ các thủ tục không phù hợp như phòng cháy chữa cháy hay giấy phép môi trường đối với các đơn vị hoạt động thuần túy trên môi trường số hoặc trong lĩnh vực dịch vụ trí tuệ. Mỗi thủ tục hành chính không cần thiết đang tương đương với một rào cản vô hình ngăn cản hàng nghìn người bước vào con đường khởi nghiệp chính thức.

Số hóa chế độ kế toán và thuế. Cần bãi bỏ hệ thống sổ sách phức tạp truyền thống, thay thế bằng ứng dụng AI có khả năng quét, tra soát hóa đơn tự động và kết nối trực tiếp với cổng Tổng cục Thuế. Áp dụng thuế tỷ lệ phẳng ở mức cực thấp hoặc thuế khoán số hóa cho nhóm doanh nghiệp một người trong giai đoạn đầu. Đồng thời, cần có cơ chế cho phép dùng tài sản vô hình như: Các sáng chế, kênh YouTube, phần mềm, thương hiệu cá nhân, dữ liệu khách hàng - làm tài sản thế chấp để tiếp cận các gói tín dụng vi mô. Vương quốc Anh có lẽ sở hữu chế độ thuế thân thiện nhất với "sole trader" trong nhóm G7: hệ thống kế toán đơn giản hóa tối đa theo phương thức tiền mặt, miễn thuế hoàn toàn cho thu nhập dưới ngưỡng cơ bản. Đây là cơ sở tham chiếu trực tiếp để Việt Nam cải cách chế độ khai thuế hiện tại - vốn đang là một trong những rào cản lớn nhất với người mới khởi nghiệp.

Đòn bẩy công nghệ AI. Cần triển khai gói tài trợ "hạ tầng số tối thiểu" bao gồm cloud hosting, tên miền quốc gia (.vn) và chữ ký số miễn phí trong 1-2 năm đầu khởi nghiệp. Phổ cập các hệ thống Mini-ERP, CRM tích hợp AI được trợ giá, giúp doanh nghiệp một người quản lý khách hàng và tự động hóa marketing ở tiêu chuẩn không thua kém bất kỳ doanh nghiệp vừa nào.

Phát triển năng lực và thay đổi tư duy. Cần đưa các module về tài chính cá nhân, luật doanh nghiệp cơ bản và tố chất tâm lý khởi nghiệp vào chương trình trường nghề và đại học. Triển khai chương trình "bác sĩ doanh nghiệp" địa phương, đưa chuyên gia tư vấn quản trị thực chiến về các trung tâm hỗ trợ theo hình thức cầm tay chỉ việc. Đặc biệt, cần thiết lập Quỹ Bảo hiểm Thất bại, cơ chế trợ cấp 3 đến 6 tháng cho cá nhân đã dũng cảm thành lập doanh nghiệp nhưng thất bại. Đây không phải là chi phí phúc lợi xã hội - đây là khoản đầu tư vào văn hóa chấp nhận rủi ro, điều kiện tiên quyết của mọi nền kinh tế đổi mới sáng tạo thực sự. Hỗ trợ đầu tư từ Quỹ đầu tư mạo hiểm địa phương (theo Nghị quyết 264/2025CP) đối với các cá nhân, doanh nghiệp có sản phẩm, dịch vụ có giá trị triển khai khả thi.

59054654.jpg

Lộ trình thực thi: Ba giai đoạn đến năm 2030

Đặc biệt, cần chiến lược triển khai theo ba giai đoạn cụ thể.

Giai đoạn kiến tạo nền móng (2026-2027) tập trung vào thử nghiệm có kiểm soát: triển khai khung pháp lý Sandbox cho mô hình doanh nghiệp một người số hóa tại các thành phố lớn như TP.HCM, Hà Nội và Đà Nẵng và mở rộng dần về các địa phương. Thí điểm các hub hỗ trợ cấp phường, xã, khu phố và đánh giá hiệu quả trước khi nhân rộng. Đây là giai đoạn không thể bỏ qua, mọi chính sách được ban hành không qua thử nghiệm thực địa đều tiềm ẩn rủi ro thiết kế sai từ đầu.

Giai đoạn tăng tốc và số hóa (2028-2029) nhân rộng hạ tầng công nghệ, hoàn thiện hệ thống thuế và kế toán tự động hóa bằng AI trên toàn quốc. chuyển đổi hoạt động và số hoá tối đa các hoạt động kinh doanh và quản trị của loại hình doanh nghiệp một người này trên nền tảng số. Thiết lập mạng lưới dịch vụ chuyên biệt dùng chung được triển khai đại trà đồng bộ, đồng thời mở rộng chương trình đào tạo năng lực quốc gia.

Năm 2030 là mốc hoàn thiện hệ sinh thái với mục tiêu đạt 1 triệu doanh nghiệp một người hoạt động chính thức - không phải dưới dạng hộ kinh doanh cá thể truyền thống mà là các thực thể kinh tế số, linh hoạt, có khả năng tích hợp vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu, đóng góp có trọng lượng vào GDP quốc gia.

Trong suốt nhiều thập kỷ, chính sách kinh tế của Việt Nam được thiết kế xoay quanh bài toán thu hút đầu tư nước ngoài quy mô lớn và phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ. Đó là hướng đi đúng đắn và đã mang lại những thành tựu không thể phủ nhận. Nhưng kỷ nguyên số đang mở ra một logic kinh tế mới: Quy mô nhỏ không còn đồng nghĩa với năng lực cạnh tranh thấp.

Khi một cá nhân sáng tạo được trang bị AI, kết nối internet và một khung chính sách thông minh, họ có thể tạo ra giá trị ở mức độ mà trước đây đòi hỏi một tổ chức với hàng chục nhân sự. Bỏ lỡ tầng kinh tế này là bỏ lỡ một phần quan trọng của động lực tăng trưởng thập kỷ tới.

Điều Việt Nam cần không chỉ là thêm chính sách hỗ trợ, mà là một cuộc tái kiến trúc tư duy về quy mô kinh tế, về giá trị của sự linh hoạt và về vai trò của cá nhân trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia. Doanh nghiệp một người, được chính sách kiến tạo đúng cách, không phải là đối tượng cần bảo trợ, họ là lực lượng tiên phong sáng tạo đáng được đầu tư.

Ưu điểm của mô hình:

Tính linh hoạt và khả năng xoay trục cực nhanh: Người chủ doanh nghiệp một người có thể ra quyết định thay đổi toàn bộ mô hình kinh doanh trong thời gian nhanh chóng. Đây là lợi thế sinh tồn vô giá trong một môi trường kinh tế mà các biến động diễn ra theo chu kỳ tháng, thậm chí tuần.

Mô hình chi phí tinh gọn: Doanh nghiệp một người không có quỹ lương cố định, không có mặt bằng vật lý bắt buộc, không có bộ máy hành chính trung gian, đây là mô hình "lean startup" theo nghĩa thuần túy và lý tưởng nhất.

Khả năng khai thác thị trường ngách. Các doanh nghiệp lớn vận hành theo nguyên tắc quy mô kinh tế - họ không thể sinh lời nếu phục vụ một phân khúc quá nhỏ. Chính khoảng trống đó là lãnh địa của doanh nghiệp một người.

Cuối cùng, mô hình này đóng vai trò mầm ươm của đổi mới sáng tạo. Doanh nghiệp một người chính là sân thử nghiệm an toàn nhất cho những ý tưởng rủi ro cao - nơi thất bại có chi phí thấp nhất và bài học thu được có giá trị cao nhất.

TS. Nguyễn Hữu Thi