Quy định mới về điều kiện, thủ tục cấp giấy chứng nhận đầu tư ra nước ngoài
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 103/2026/NĐ-CP quy định chi tiết về hoạt động đầu tư ra nước ngoài, trong đó đáng chú ý là các quy định liên quan đến điều kiện và thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài.
Nghị định gồm 5 chương, 45 điều, hướng dẫn cụ thể việc triển khai Luật Đầu tư đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài nhằm mục đích kinh doanh, đồng thời hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này.
Theo quy định, nghị định không áp dụng đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài thông qua mua bán chứng khoán, các giấy tờ có giá hoặc đầu tư qua các quỹ đầu tư, định chế tài chính trung gian ở nước ngoài; cũng như các hoạt động đầu tư trong lĩnh vực dầu khí.
Nghị định áp dụng đối với nhà đầu tư, cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động đầu tư ra nước ngoài.
Để được cấp phép đầu tư ra nước ngoài, nhà đầu tư phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định. Cụ thể, hoạt động đầu tư phải phù hợp với nguyên tắc của Luật Đầu tư, không thuộc ngành nghề bị cấm và đáp ứng điều kiện đối với các ngành nghề có điều kiện.
Bên cạnh đó, nhà đầu tư phải có quyết định đầu tư ra nước ngoài theo đúng quy định và có xác nhận của cơ quan thuế về việc đã hoàn thành nghĩa vụ thuế, với thời điểm xác nhận không quá 3 tháng trước khi nộp hồ sơ.
Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm trên 50% vốn điều lệ, các điều kiện được siết chặt hơn. Doanh nghiệp phải sử dụng vốn chủ sở hữu để đầu tư, có kết quả kinh doanh có lãi trong hai năm liên tiếp trước thời điểm đăng ký, đồng thời tuân thủ đầy đủ quy trình nếu sử dụng vốn góp tăng thêm để đầu tư ra nước ngoài.

Theo nghị định, Bộ Tài chính là cơ quan có thẩm quyền cấp, điều chỉnh và chấm dứt hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài đối với các dự án có quy mô từ 7 tỷ đồng trở lên hoặc thuộc ngành nghề đầu tư có điều kiện.
Đối với các dự án lớn từ 1.600 tỷ đồng trở lên hoặc có đề xuất áp dụng cơ chế đặc biệt, Bộ Tài chính phải báo cáo và được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận trước khi cấp phép.
Trong một số trường hợp điều chỉnh dự án như thay đổi địa điểm trong cùng quốc gia, tăng vốn ở mức hạn chế, tái đầu tư từ lợi nhuận hoặc giảm vốn để chuyển về nước, nhà đầu tư không phải xin lại ý kiến chấp thuận của Thủ tướng.
Nghị định cũng quy định một số trường hợp không phải thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài. Theo đó, các dự án có quy mô dưới 7 tỷ đồng và không thuộc ngành nghề đầu tư có điều kiện chỉ cần thực hiện đăng ký giao dịch ngoại hối.
Ngoài ra, một số dự án đặc thù như dự án gắn với quốc phòng - an ninh theo thỏa thuận giữa các Chính phủ, hoặc dự án của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước theo danh mục quy định cũng thuộc diện miễn thủ tục này.
Đáng chú ý, các doanh nghiệp lớn, có năng lực tài chính tốt, sử dụng nguồn ngoại tệ tự có và có lịch sử đầu tư hiệu quả ra nước ngoài cũng được xem xét không phải cấp giấy chứng nhận, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư quốc tế.
Về hồ sơ, nhà đầu tư phải chuẩn bị đầy đủ các tài liệu như văn bản đăng ký đầu tư, tài liệu pháp lý, quyết định đầu tư, xác nhận nghĩa vụ thuế và các tài liệu liên quan đến địa điểm, hình thức đầu tư.
Quy trình thực hiện được số hóa thông qua Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư. Nhà đầu tư kê khai thông tin trực tuyến, đồng thời nộp hồ sơ bản giấy cho Bộ Tài chính.
Đối với các dự án có quy mô từ 25 tỷ đồng trở lên, Bộ Tài chính sẽ lấy ý kiến Ngân hàng Nhà nước về các vấn đề liên quan đến ngoại hối và dòng vốn. Thời hạn giải quyết hồ sơ là 15 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ.
Trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ hoặc cần làm rõ, cơ quan quản lý sẽ có văn bản yêu cầu bổ sung trong thời hạn 5 ngày làm việc. Nếu không đáp ứng điều kiện, Bộ Tài chính sẽ từ chối cấp giấy chứng nhận và nêu rõ lý do.
Nghị định có hiệu lực từ ngày 3/4/2026, đồng thời thay thế các quy định trước đây về đầu tư ra nước ngoài tại Nghị định 31/2021/NĐ-CP.
Việc ban hành nghị định mới được kỳ vọng sẽ vừa tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước, vừa tạo điều kiện thuận lợi hơn cho doanh nghiệp Việt Nam mở rộng hoạt động đầu tư ra thị trường quốc tế, phù hợp với xu hướng hội nhập và phát triển kinh tế toàn cầu.