Toàn cảnh

Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

Văn Tùng 24/03/2026 06:00

Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn đã ký ban hành Quyết định số 458/QĐ-TTg phê duyệt Đề án cập nhật triển khai Tuyên bố chính trị thiết lập Quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng (JETP). Đây là bước đi chiến lược nhằm cụ thể hóa các cam kết quốc tế của Việt Nam về chuyển đổi năng lượng, đồng thời tạo nền tảng cho phát triển bền vững trong dài hạn.

Đề án đặt mục tiêu tổng thể triển khai hiệu quả Tuyên bố JETP gắn với Nghị quyết số 70-NQ/TW và Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Trọng tâm là bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, đáp ứng nhu cầu điện cho phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng và đời sống nhân dân.

Song song đó, Việt Nam chủ động thực hiện lộ trình chuyển đổi năng lượng công bằng, thúc đẩy phát triển năng lượng tái tạo, năng lượng mới và sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, qua đó góp phần thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng “0” trên cơ sở hài hòa lợi ích quốc gia.

Trong giai đoạn đến năm 2030, Đề án tập trung hoàn thiện thể chế, chính sách và khung pháp lý nhằm tạo môi trường đầu tư thuận lợi cho các lĩnh vực năng lượng sạch. Trọng điểm là khuyến khích phát triển điện gió ngoài khơi, điện mặt trời và các hệ thống lưu trữ năng lượng.

Đồng thời, Việt Nam sẽ xây dựng và hoàn thiện các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường và phát thải khí nhà kính đối với các công nghệ năng lượng mới như thu hồi và lưu trữ carbon (CCUS), hydrogen xanh và amoniac xanh, bảo đảm tính khả thi và phù hợp với thông lệ quốc tế.

dgio-17344939824012022106285.jpg
Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới. Ảnh minh họa

Bên cạnh đó, việc huy động nguồn lực từ các đối tác quốc tế được xác định là yếu tố then chốt nhằm triển khai các dự án JETP, đặc biệt trong phát triển hạ tầng năng lượng hiện đại như hệ thống truyền tải, tích trữ và điều hành điện thông minh có khả năng tích hợp quy mô lớn nguồn năng lượng tái tạo. Đề án cũng định hướng từng bước làm chủ công nghệ, nâng cao năng lực quản trị và phát triển nguồn nhân lực, hướng tới sản xuất trong nước các thiết bị phục vụ ngành năng lượng tái tạo.

Đồng thời, Việt Nam sẽ thúc đẩy phát triển công nghiệp năng lượng tái tạo, bao gồm chế tạo thiết bị, lưu trữ điện năng, công nghệ thu hồi và sử dụng CO₂, cũng như chuỗi giá trị hydrogen xanh và amoniac xanh. Mục tiêu đến năm 2030 hình thành hai trung tâm công nghiệp và dịch vụ năng lượng tái tạo tại các khu vực có tiềm năng, tạo động lực tăng trưởng mới cho nền kinh tế.

Quá trình chuyển đổi năng lượng được xác định phải gắn liền với bảo đảm công bằng xã hội. Theo đó, Đề án chú trọng tạo việc làm mới, tổ chức đào tạo và đào tạo lại lực lượng lao động, đồng thời triển khai các chính sách an sinh xã hội đối với các nhóm dễ bị tổn thương. Việc khuyến khích người dân và doanh nghiệp tham gia sử dụng năng lượng sạch, tiết kiệm và hiệu quả cũng được đẩy mạnh nhằm hình thành thói quen tiêu dùng năng lượng bền vững.

Theo các chỉ tiêu đặt ra, đến năm 2030, tỷ lệ năng lượng tái tạo dự kiến đạt khoảng 47% tổng công suất điện, trong khi công suất nhiệt điện than được kiểm soát ở mức khoảng 30 - 31 GW. Phát thải khí nhà kính từ ngành điện sẽ được khống chế ở mức không quá 170 triệu tấn CO₂ tương đương, phù hợp với mục tiêu an ninh năng lượng và có sự hỗ trợ hiệu quả từ các đối tác quốc tế trong khuôn khổ JETP.

Sau năm 2030, Việt Nam tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách nhằm thúc đẩy sử dụng năng lượng sạch và tiết kiệm trở thành hoạt động thường xuyên trong toàn xã hội. Ngành công nghiệp năng lượng tái tạo và năng lượng mới, bao gồm hydrogen xanh, amoniac xanh và công nghệ thu hồi, lưu trữ carbon, sẽ được phát triển mạnh mẽ, song song với nâng cao năng lực nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và làm chủ công nghệ tiên tiến.

Một điểm đáng chú ý là chủ trương không xây dựng mới và từng bước dừng hoạt động các nhà máy nhiệt điện than có tuổi thọ trên 40 năm nếu không thể chuyển đổi nhiên liệu. Mục tiêu đến năm 2050, tỷ lệ năng lượng tái tạo trong tổng năng lượng sơ cấp đạt khoảng 80 - 85%, đồng thời phát thải từ lĩnh vực năng lượng được kiểm soát ở mức không vượt quá 101 triệu tấn CO₂ tương đương.

Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, Đề án đề ra 10 nhóm nhiệm vụ trọng tâm mang tính hệ thống và đồng bộ. Trước hết là hoàn thiện thể chế, chính sách nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn trong quy hoạch, cấp phép và huy động vốn cho các dự án năng lượng, đồng thời xây dựng cơ chế tài chính linh hoạt để thu hút đầu tư tư nhân và quốc tế.

Cùng với đó, việc chuyển đổi điện than sang năng lượng sạch sẽ được thúc đẩy thông qua đàm phán với các nhà đầu tư, xử lý các dự án chậm tiến độ và xây dựng lộ trình chuyển đổi sang các nhiên liệu xanh như hydrogen và amoniac. Phát triển hệ sinh thái công nghiệp năng lượng tái tạo, bao gồm các nguồn điện như thủy điện, điện gió, điện mặt trời, sinh khối và điện từ rác thải, cũng là một trụ cột quan trọng.

Đề án đồng thời nhấn mạnh yêu cầu sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế, kết hợp với việc nâng cấp hệ thống truyền tải, phát triển lưới điện thông minh và các giải pháp lưu trữ năng lượng. Quá trình chuyển đổi năng lượng xanh trong giao thông vận tải và xây dựng sẽ được thúc đẩy nhằm giảm phát thải khí nhà kính trên diện rộng.

Bên cạnh đó, đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ được xác định là động lực then chốt, giúp Việt Nam tiếp cận và làm chủ các công nghệ năng lượng tiên tiến. Các chính sách bảo đảm công bằng trong chuyển đổi năng lượng, nâng cao nhận thức cộng đồng và tăng cường hợp tác quốc tế cũng đóng vai trò quan trọng trong việc huy động nguồn lực và bảo đảm hiệu quả triển khai.

Văn Tùng