Toàn cảnh

Bộ Công Thương phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch năng lượng quốc gia đến năm 2050

Sơn Nguyễn 18/03/2026 08:15

Bộ Công Thương vừa ban hành Quyết định số 363/QĐ-BCT ngày 28/2/2026, phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch tổng thể năng lượng quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Đây là cơ sở quan trọng để định hình chiến lược phát triển ngành năng lượng trong giai đoạn tới, với trọng tâm bảo đảm an ninh năng lượng, thúc đẩy chuyển dịch xanh và nâng cao tính tự chủ của nền kinh tế.

Theo nội dung được phê duyệt, quy hoạch điều chỉnh bao quát toàn bộ các phân ngành chủ chốt gồm dầu khí, than, điện lực, năng lượng mới và năng lượng tái tạo. Phạm vi quy hoạch trải dài trên toàn chuỗi hoạt động của ngành năng lượng, từ điều tra cơ bản, thăm dò, khai thác, sản xuất, lưu trữ, phân phối đến tiêu thụ và các hoạt động liên quan.

Riêng với lĩnh vực than, quy hoạch tập trung vào dự báo cung - cầu, phát triển hạ tầng phục vụ sản xuất, chế biến, vận chuyển, tồn trữ và hoạt động xuất nhập khẩu, nhằm đáp ứng yêu cầu vận hành đồng bộ của toàn hệ thống năng lượng quốc gia.

Về định hướng phát triển, quy hoạch nhấn mạnh yêu cầu gắn kết chặt chẽ giữa năng lượng và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm hệ thống năng lượng đi trước một bước, phát triển bền vững và có khả năng đáp ứng đầy đủ nhu cầu cho tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Bên cạnh đó, việc đa dạng hóa nguồn cung tiếp tục được xác định là giải pháp then chốt để nâng cao khả năng chống chịu và bảo đảm an ninh năng lượng trong dài hạn.

Quy hoạch cũng đặt ra yêu cầu khai thác, sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên năng lượng trong nước, kết hợp hợp lý với nhập khẩu để vừa bảo tồn tài nguyên, vừa đáp ứng nhu cầu phát triển. Song song đó là định hướng phát triển thị trường năng lượng cạnh tranh, minh bạch, đa dạng về hình thức sở hữu và phương thức kinh doanh, đồng thời từng bước xóa bỏ bao cấp và tách bạch chính sách xã hội khỏi giá năng lượng.

image (18)
Bộ Công Thương phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch năng lượng quốc gia đến năm 2050

Về mục tiêu tổng thể, điều chỉnh quy hoạch xác định ưu tiên hàng đầu là bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội với mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân tối thiểu 10%/năm trong giai đoạn 2026 - 2030.

Theo đó, tổng nhu cầu năng lượng cuối cùng dự kiến đạt khoảng 120 - 130 triệu tấn dầu quy đổi vào năm 2030 và 175 - 200 triệu tấn vào năm 2050. Tổng cung năng lượng sơ cấp tương ứng đạt khoảng 150 - 170 triệu tấn vào năm 2030 và 210 - 250 triệu tấn vào năm 2050. Đồng thời, mục tiêu nâng dự trữ xăng dầu toàn quốc lên khoảng 90 ngày nhập ròng vào năm 2030 cũng được đặt ra nhằm củng cố năng lực dự phòng chiến lược.

Trong lộ trình chuyển dịch năng lượng công bằng, quy hoạch đặt mục tiêu nâng tỷ trọng năng lượng tái tạo trong tổng năng lượng sơ cấp lên khoảng 25 - 30% vào năm 2030 và 70 - 80% vào năm 2050. Mức tiết kiệm năng lượng được kỳ vọng đạt khoảng 8 - 10% tổng tiêu thụ cuối cùng vào năm 2030 so với kịch bản thông thường.

Cùng với đó, phát thải khí nhà kính của lĩnh vực năng lượng dự kiến giảm 15 - 35% vào năm 2030, xuống còn khoảng 101 triệu tấn CO2 tương đương vào năm 2050. Quy hoạch cũng hướng tới mục tiêu đạt đỉnh phát thải vào năm 2030, gắn với việc thực hiện đầy đủ các cam kết trong khuôn khổ chuyển đổi năng lượng công bằng JETP.

Đối với phát triển công nghiệp năng lượng, quy hoạch đặt trọng tâm vào khai thác hiệu quả nguồn lực trong nước. Sản lượng dầu thô giai đoạn 2026 - 2030 dự kiến đạt 5,8 - 8 triệu tấn/năm; giai đoạn 2031 - 2035 đạt 6 - 10 triệu tấn/năm và định hướng 4,8 - 7,8 triệu tấn/năm trong giai đoạn 2036 - 2050.

Sản lượng khí tự nhiên giai đoạn 2026 - 2030 được dự báo ở mức 5,4 - 11 tỷ m3/năm; giai đoạn 2031 - 2035 đạt 9 - 15 tỷ m3/năm; và tăng lên 14 - 18,8 tỷ m3/năm trong giai đoạn 2036 - 2050. Cùng với đó, quy hoạch đề ra định hướng phát triển đầy đủ năng lực nhập khẩu LNG để phục vụ các nhà máy điện khí và các nhu cầu khác, đồng thời hình thành các trung tâm năng lượng LNG phù hợp theo từng vùng.

Hạ tầng ngành than cũng được yêu cầu phát triển theo hướng đồng bộ, liên thông giữa các khu vực và gắn kết với hệ thống hạ tầng của các ngành liên quan. Đây được xem là điều kiện cần để nâng cao hiệu quả vận hành, tối ưu chuỗi cung ứng và bảo đảm khả năng đáp ứng nhu cầu năng lượng trong mọi tình huống.

Một điểm nhấn đáng chú ý của quy hoạch điều chỉnh là mục tiêu phát triển ngành năng lượng theo hướng trở thành trung tâm công nghiệp năng lượng sạch và xuất khẩu năng lượng tái tạo của khu vực. Theo đó, các trung tâm năng lượng tái tạo sẽ được hình thành tại những địa phương có lợi thế về điều kiện tự nhiên và hạ tầng.

Đến năm 2030, Việt Nam dự kiến hình thành một số trung tâm năng lượng sạch tại Đồng bằng sông Hồng, Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Các trung tâm này không chỉ tập trung vào sản xuất và sử dụng năng lượng, mà còn hướng tới phát triển công nghiệp chế tạo thiết bị, chế biến dầu khí, xây lắp và các dịch vụ hỗ trợ liên quan.

Song song với đó, quy hoạch cũng thúc đẩy phát triển các nguồn năng lượng mới để phục vụ cả nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Trong đó, hydrogen xanh được xác định là một hướng đi chiến lược, với mục tiêu đạt quy mô sản xuất khoảng 100 - 200 nghìn tấn/năm vào năm 2030 và nâng lên 10 - 20 triệu tấn/năm vào năm 2050.

Việc phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch tổng thể năng lượng quốc gia được kỳ vọng sẽ tạo nền tảng cho quá trình chuyển đổi năng lượng của Việt Nam theo hướng hiện đại, bền vững và thích ứng tốt hơn với các yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.

Sơn Nguyễn