Vai trò tri thức, công nghệ và thể chế trong mô hình tăng trưởng và giải pháp thúc đẩy tăng trưởng hai con số cho TP.HCM trong bối cảnh mới
Theo GS.TS Nguyễn Thị Cành - Trường Đại học Kinh tế - Luật, ĐHQG TP.HCM, tri thức, công nghệ và chất lượng thể chế đóng vai trò quan trọng trong mô hình tăng trưởng mới của TP.HCM. Tạp chí Doanh Nhân Sài Gòn trân trọng giới thiệu toàn văn tham luận của GS.TS Nguyễn Thị Cành.

TÓM TẮT:
Bài nghiên cứu dựa trên cơ sở tổng quan lý thuyết về mô hình tăng trưởng, giải thích nguồn gốc của sự tăng trưởng. Vận dụng phương pháp nghiên cứu định tính diễn giải, quy nạp để kiến tạo mô hình tăng trưởng cho TP.HCM dựa trên vai trò của các yếu tố tri thức, công nghệ và thể chế gắn với NQ 57- NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp tăng trưởng hai con số dựs trên các động lực tăng trưởng mới.
Từ khóa: Mô hình tăng trưởng, Tri Thức, Công nghệ, Thể chế
GIỚI THIỆU:
Mô hình tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu thường được hiểu là tăng trưởng cao dựa vào sự đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP), hướng hoạt động của nền kinh tế vào các ngành, lĩnh vực có giá trị gia tăng cao, giảm chi phí sản xuất, gia tăng xuất khẩu hàng hóa có hàm lượng công nghệ cao. Mục tiêu của TP.HCM trong năm năm tới (Tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân 2026-2030 đạt 10- 11%/năm; GRDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt khoảng 14.000-15.000 USD; Kinh tế số đóng góp 30-40% vào GRDP; Tăng năng suất lao động xã hội bình quân khoảng 8%/năm; Đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào GRDP đạt 60%.....). Dù rằng tăng trưởng GRDP năm 2025 của TP. Hồ Chí Minh ước tăng 8,03%; Bình Dương 8,88%, BR-VT 5,44%; tính bình quân cả giai đoạn 2020-2025 tốc độ tăng trưởng thấp hơn và thiếu ổn định do tác động của dịch bệnh Covid.
Bởi vì nguyên nhân của tăng trưởng thấp là do chưa có đột phá về mô hình tăng trưởng trong đó yếu tố năng suất tổng nhân tố tổng hợp (TFP) thay đổi chậm. Trong khi năng suất tổng nhân tố tổng hợp (TFP) chưa phát huy được vai trò của ba yếu tố thành phần là tri thức, công nghệ và thể chế. Như vậy nghiên cứu sâu các yếu tố trong mô hình tăng trưởng ngoài yếu tố vốn, nhân lực, trong bối cảnh mới của cách mạng công nghiệp lần thứ tư, kỷ nguyên mới trong bài viết này tác giả muốn nhấn mạnh yếu tố thể chế vào mô hình tăng trưởng và làm rõ vai trò của các yếu tố tri thức, công nghệ và thể chế trong mô hình tăng trưởng mới. Từ đó đưa ra các gợi ý chính sách áp dụng mô hình tăng trưởng mới nhằm giúp TP.HCM đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số cho giai đoạn 2026- 2030.
1. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ: GIẢI THÍCH NGUỒN GỐC CỦA TĂNG TRƯỞNG
1.1. Hàm sản xuất và mô hình Solow
Hàm sản xuất tính tổng năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) dựa vàomô hình Solow
Một phương pháp phổ biến dùng để đánh giá đóng góp các nhân tố, trong đó có yếu tố vốn vào tăng trưởng GDP là sử dụng hàm sản xuất, với hai yếu tố đầu vào cơ bản là vốn và lao động. Sự gia tăng sản lượng trong nền kinh tế là do hai phần chính: (1) sự gia tăng của các yếu tố đầu vào; (2) sự gia tăng về năng suất bằng hệ số năng suất các nhân tố tổng hợp (Total Factor Productivity – TFP).
Hàm sản xuất tổng thể được giả định có dạng tổng quát như sau:
Q= F(K, L,t), (1)
Trong đó, Q là tổng sản lượng, K và L là các tổng nhập lượng vốn và lao động và t là thời gian. Một giả định đơn giản nhất về tác động của thời gian là sự tiến bộ về hiệu quả kinh tế như công nghệ và phương pháp quản lý, trong đó cho rằng tác động này làm tăng khối lượng sản phẩm sản xuất ra từ một sự kết hợp nhất định của hai nhân tố sản xuất là vốn và lao động. Tuy nhiên, nó không hề ảnh hưởng tới các sản phẩm biên tương đối của các nhân tố sản xuất riêng rẽ. Với giả định này, hàm sản xuất theo Solow (1957) có thể được viết lại như sau: Qt = AtF(Kt, Lt) (2)
với A là tiến bộ về hiệu quả kinh tế như công nghệ, phương pháp quản lý, điều hành... (được gọi chung là tổng năng suất các nhân tố -TFP).
1.2. Giải thích các yếu tố quan trọng cho tăng trưởng từ các mô hình tăng trưởng mới mở rộng: Công nghệ, Tri thức và Thể chế
Yếu tố công nghệ và Tri thức. Lucas, (1988), đã đưa ra một mô hình để giải thích kết quả trên còn có sự đóng góp của yếu tố vốn con người hay vốn tri thức (giáo dục đào tạo nguồn nhân lực). Romer, (1986, 1990), đã đưa ra một mô hình để giải thích thêm yếu tố tri thức, công nghệ mới (new technology).
Do yếu điểm của các mô hình tăng trưởng ngọai sinh là không giải thích được tỷ lệ tăng trưởng dài hạn, nên đòi hỏi các nhà kinh tế phải xây dựng các mô hình tăng trưởng khác, và được gọi là mô hình tăng trưởng nội sinh. Mô hình “tăng trưởng nội sinh” (endougenous growth model) ra đời với các tác giả điển hình như là Paul Romer (1986) và Lucas (1990). Các mô hình tăng trưởng nội sinh giải thích được các yếu tố góp phần vào tăng trưởng dài hạn. Mô hình này nhấn mạnh các yếu tố như là “tác động lan tỏa” (spillover effects) và “học thông qua thực hành” mà nhờ đó các quyết định của các doanh nghiệp về đầu tư vốn vào hoặc cho nghiên cứu phát triển tạo ra công nghệ mới, hoặc đầu tư của cá nhân và doanh nghiệp về đào tạo cho nguồn vốn nhân lực hay vốn tri thức có thể đưa đến ảnh hưởng có lợi cho nền kinh tế, làm thay đổi mô hình tăng trưởng.
Arrow (1962) và Romer (1986) đã đưa ra hai giả thiết về tăng trưởng năng suất. Thứ nhất, học thông qua làm việc hay công việc thực hiện được thông qua vốn đầu tư của một công ty. Theo giả thiết này, khi dòng vốn đầu tư tăng lên, dẫn đến đầu tư phát triển công nghệ mới kéo theo dòng vốn tri thức cũng tăng lên. Thứ hai, tri thức của một công ty là một lọai hàng hóa công, những công ty khác có thể tiếp thu sử dụng dòng tri thức này mà không cần phải bỏ ra chi phí. Điều này có nghĩa là phát minh công nghệ mới và tri thức được truyền bá ngay lập tức trong tòan bộ nền kinh tế. Giả thiết này nói lên rằng, sự thay đổi công nghệ trong mỗi công ty phù hợp với xu thế học tập tạo ra dòng tri thức trong tòan bộ nền kinh tế.
Phương pháp vốn nhân lực hay vốn trí tuệ thuộc về mô hình tăng trưởng nội sinh cũng có nội dung tương tự như mô hình học hỏi thông qua làm việc: trí tuệ hay tri thức trở thành một bộ phận có thể tái sản xuất thay vì chỉ là một bộ phận của lực lượng lao động. Nếu lực lượng lao động bao gồm cả quản lý có chất lượng thấp, khi được đào tạo có trình độ cao hơn, hiệu quả và năng suất sẽ cao hơn.
Le Van and Pham (FREP, 2022) trong bài "Why does productivity matter?" đã chỉ ra rằng, tốc độ tăng trưởng GDP đầu người tăng nếu yếu tố tổng năng suất các nhân tố At tăng. Theo nhóm tác giả, dựa vào phần A của mô hình (2), nếu tăng đầu tư vào công nghệ mới, hay/và tăng đầu tư cho giáo dục đào tạo, cùng với tăng vốn trí thức (vốn trí tuệ) thì sẽ làm tăng tốc độ tăng trưởng, phù hợp với những nghiên cứu trước đây của Lucas, Romer, Baumol, Bloom.
Đổi mới sáng tạo và tăng trưởng kinh tế: Bắt chước hay sáng tạo?. Trong bài trình bày về đổi mới sáng tạo (2025), GS Lê Văn Cường đã trả lời cho câu hỏi như thế nào là đổi mới sáng tạo khi dựa vào cuốn sách “Economics of growth” (MIT Press, 1997) của Philippe Aghion và Peter Howitt. Hai nhà kinh tế này đã áp dụng lý thuyết kinh tế của Schumpeter (Creative estruction, 1942) để đưa ra khái niệm này. Sáng tạo những công nghệ mới thì song song đó sẽ loại bỏ những công nghệ "lỗi thời", lạc hậu. Tại mỗi thời điểm, sản xuất ở một nước sẽ phụ thuộc vào tăng trưởng của tham số gọi là tổng năng suất các nhân tố (mô hình tăng trưởng tân cổ điển), như đã nêu trên, được ký hiệu là TFP. Tăng trưởng của TFP gồm hai yếu tố: Sử dụng (có thể cải tiến thêm) các công nghệ đã có sẵn mà một quốc gia đã nhập khẩu trước đó. Giai đoạn này ta gọi là giai đoạn "bắt chước"(imitation). Một quốc gia sẽ bắt chước ít hay nhiều tuỳ vào khoảng cách giữa trình độ công nghệ của toàn cầu (gọi là biên của công nghệ (technology frontier))và trình độ công nghệ của quốc gia đó. Nếu khoảng cách cao thì quốc gia đó sẽ tập trung nhiều vào sự “bắt chước” (imitation). Sáng tạo công nghệ mới sau khi đã lọai bỏ các công nghệ "lỗi thời". Một quốc gia tiên tiến, khi trình độ công nghệ của họ đã đạt trình độ công nghệ của thế giới (biên của công nghệ) thì họ sẽ đầu tư vào nghiên cứu để làm tăng biên của công nghệ, nhờ đó mức độ tăng trưởng sẽ cao hơn.Theo cách này, các quốc gia trên thế giới được chia thành hai loại gồm (i) các quốc gia làm tăng biên của công nghệ (tức những quốc gia dẫn đầu, leader) và (ii) các quốc gia theo sau tập trung vào “bắt chước” imitation (followers). Dù vậy, ở trong giai đoạn “bắt chước” (imitation) hay sáng tạo, phát minh mới (invention), thì cần phải có nhiều người có trình độ kiến thức cao. Kiến thức này được truyền đạt qua giáo dục đào tạo, đặc biệt ở các trường đại hoc. Như vậy đổi mới công nghệ đòi hỏi phải đào tạo nguồn nhân lực phù hợp. Đầu tư cho đổi mới công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao tương ứng sẽ tạo ra điều kiện tiên quyết cho đổi mới sáng tạo-Đây chính là tinh thần của Nghị Quyết 57. Cuối cùng sẽ tạo cho các doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung sẽ có năng suất, hiệu qủa cao và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững.
Yếu tố thể chế. Theo nhà kinh tế học thể chế nổi tiếng Douglass North, (1981) thì “Thể chế là các quy tắc của trò chơi trong một xã hội, hoặc nói một cách chính thức hơn, là những ràng buộc do con người tạo ra nhằm định hình sự tương tác giữa con người. Thể chế cấu thành các động lực trong các trao đổi giữa con người, dù là về chính trị, xã hội, hay kinh tế”. Giải Nobel kinh tế 2024 đã được trao cho Acemoglu, Johnson, và Robinson vì những nghiên cứu của họ nhằm trả lời câu hỏi, thể chế được hình thành như thế nào và nó có ảnh hưởng gì tới sự giàu nghèo của một quốc gia. Hay nói cách khác, nguồn gốc sự giàu nghèo giữa các quốc gia là do thể chế. Cùng với nhiều nhà nghiên cứu khác, các công trình nghiên cứu của Daron Acemoglu, Simon Johnson và James A. Robinson đã lôi kéo theo một khối lượng đồ sộ các nghiên cứu về thể chế và phát triển kinh tế. Các nhà kinh tế đã đúc kết và chỉ ra rằng
(i) Thể chế nói chung đóng vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế; (ii) Để thay đổi thể chế cần phải có cách thức để đẩy lùi sự chống đối của các nhóm lợi ích; (iii) Thể chế không tồn tại và thay đổi một cách biệt lập, mà có các mối quan hệ qua lại chồng chéo (đồng tiến hóa) với văn hóa và phát triển kinh tế. Cụ thể hơn, Douglass C. North, (1981) đã phát triển một khung phân tích lý thuyết để tích hợp yếu tố thể chế vào lý thuyết tăng trưởng và chỉ ra rằng thị trường sẽ không vận hành một cách hữu ích nếu thiếu một nền tảng thể chế vững chắc để hỗ trợ các quy luật thị trường.
Baumol, (1989), Bloom, (2013) đã đưa ra một giải thích khác: đó là sự đóng góp của yếu tố chất lượng quản lý vào yếu tố năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) và tăng trưởng kinh tế, mở rộng hơn có thể gọi lại yếu tố cải cách thể chế? Cho đến nay, các mô hình tăng trưởng nêu trên chưa có đề cập đến yếu tố thể chế một cách trực tiếp. Tuy nhiên, trong các mô hình đã nêu trên đã có đề cập đến yếu tố chất lượng của quản lý, chất lượng tổ chức, mở rộng ra có thể gọi đó là là chất lượng thể chế. Chất lượng quản lý, chất lượng tổ chức làm gia tăng hiệu quả hoạt động của một công ty, mở rộng ra, chất lượng thể chế nâng cao hiệu quả của cả nền kinh tế. Khi mà các quy định, các chính sách không ổn định hoặc tạo ra nhiều vật cản hạn chế huy động các nguồn lực cho đổi mới sang tạo, cho phát triển. Ngược lại, các quy định được cải tiến, các chính sách ổn định giảm thiểu các rủi ro về chính sách, rủi ro pháp lý, tạo môi trường làm việc tốt, ổn định sẽ cho phép tăng cường tính tự chủ cho các chủ thể, tăng tính sáng tạo cho các cá nhân, tăng tinh thần doanh nhân cho cộng đồng doanh nghiệp, tạo nhiều nguồn lực cũng như động lực cho đổi mới sáng tạo, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển bền vững nền kinh tế.
1.3. Mô hình tăng trưởng mới và Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia (22/12/2024)
Trước tình hình Việt Nam còn thiếu sự bứt phá về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo; tiềm lực, trình độ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia còn khoảng cách xa so với nhóm các nước phát triển; nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo chưa có bước đột phá, chưa làm chủ được công nghệ chiến lược, công nghệ cốt lõi; thể chế pháp luật, cơ chế, chính sách chưa đáp ứng yêu cầu; nguồn nhân lực chất lượng cao còn thiếu…. ; Mặt khác, để đưa đất nước phát triển mạnh mẽ trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên giàu mạnh, hùng cường, thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, đến năm 2045, trở thành nước phát triển, thu nhập cao, Tổng Bí thư Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Yêu cầu đặt ra cần giải quyết điểm nghẽn trong đầu tư nghiên cứu khoa học, đổi mới công nghệ chuyển đổi số nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế phù hợp với các mô hình tăng trưởng nêu trên. Theo NQ 57, kinh phí chi cho nghiên cứu phát triển (R&D) đạt 2% GDP hàng năm sẽ là sự đột phá về đầu tư công nghệ làm gia tăng đóng góp của tổng năng suất nhân tố (TFP) vào tăng trưởng kinh tế theo các mô hình tăng trưởng nêu trên. Vấn đề đặt ra trong dài hạn là phải quan tâm đến đầu tư cho giáo dục, đào tạo, sức khoẻ và cải cách thể chế theo mô hình tăng trưởng nêu trên. Vì nếu Không có những yếu tố này thì sẽ không có đổi mới sáng tạo. Muốn phát triển đổi mới sang tạo phải có con người có kiến thức vững chắc, có sức khoẻ tốt và tạo cơ chế tốt để thực hiện.
Tóm lại, khi thực hiện triệt để các yêu cầu của Nghị quyết 57 sẽ phát huy được vai trò của các yếu tố trong mô hình tăng trưởng kinh tế mới cho Việt Nam thể hiện vai trò của ba yếu tố gồm tri thức, công nghệ và thể chế. TP.HCM là địa phương có quy mô kinh tế lớn so với các tỉnh thành trong cả nước, nơi có nhiều sáng kiến thay đổi thể chế trong thời kỳ đầu của đổi mới và đã có các giai đoạn cải cách đạt tăng trưởng 2 con số (Giai đoạn 1991-1995: tăng trưởng bình quân 12,6%/năm; giai đoạn 1996-2000: 10,1% dù lúc này có khủng khoảng tài chính khu vực; Giai đoạn 2001- 2005 tăng trưởng bình quân 11%). Với truyền thống trên, trong bối cảnh mới TP.HCM có quyết tâm chính trị cao sẽ có nhiều cơ hội để thực hiện triệt để NQ 57, NQ68… của Trung ương, chắc chắn sẽ đạt được các mục tiêu đặt ra.
2. GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY TĂNG TRƯỞNG HAI CON SỐ CHO TP.HCM DỰA TRÊN TRI THỨC, CÔNG NGHỆ VÀ ĐỔI MỚI THỂ CHẾ
Một số giải pháp được gợi ý dưới đây bao gốm:
Thứ nhất, muốn đạt mục tiêu nêu trên phải thúc đẩy tốc độ tăng trưởng tăng
cao và bền vững. Như đã nêu yếu tố thúc đẩy tăng trưởng cao bền vững là tăng tỷ lệ đóng góp của tổng năng suất các nhân tố (TFP), trong đó có ba thành phần cơ bản là công nghệ, tri thức và thể chế. Trước tiên, cải tiến hay đổi mới công nghệ có nghĩa phải đầu tư cho đổi mới, sáng tạo, TP.HCM cần chuyển từ giai đoạn “bắt chước” sang giai đoạn sáng tạo, phát minh mới. Theo Nghị Quyết 57, đầu tư cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo đặt mục tiêu bằng 2% GDP, nhưng trong điều kiện nguồn vốn ngân sách nhà nước còn hạn chế cần phải huy động nguồn lực tài chính từ xã hội, đặc biệt là các doanh nghiệp mới đạt được mục tiêu trên (thường ở các nước phát triển nguồn vốn đầu tư cho khoa học công nghệ từ cộng đồng doanh nghiệp chiến khoảng 2/3 tổng vốn đầu tư cho khoa học công nghệ). Do vậy, TP.HCM cần áp dụng mô hình "3 nhà" (Nhà nước, Nhà trường hay Nhà khoa học, Nhà Doanh nghiệp) nhằm thúc đẩy mạnh mẽ các nguồn lực. Bởi vì mô hình này nhấn mạnh sự hợp tác chặt chẽ, hiệu quả giữa ba bên để tận dụng tối đa nguồn lực, tạo ra sự đột phá trong đào tạo nguồn nhân lực, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ. Sự hợp tác này đóng vai trò quan trọng trong việc đưa các nghiên cứu khoa học vào ứng dụng thực tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Tuy nhiên, nguồn kinh phí cho nghiên cứu khoa học, đặc biệt là các dự án hợp tác "ba nhà" còn hạn chế. Việc huy động vốn từ doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân còn gặp nhiều khó khăn. Do đó, Nhà nước cần có chính sách ưu đãi thuế, tài trợ nghiên cứu, bảo hộ sở hữu trí tuệ. Tạo điều kiện cho doanh nghiệp tham gia vào quá trình nghiên cứu, đổi mới, sẵn sàng đầu tư và thương mại hóa kết quả nghiên cứu, điều này giúp tận dụng được nguồn lực từ doanh nghiệp cho hoạt động nghiên cứu và phát triển. Một số khuyến nghị cụ thể cho TP.HCM bao gồm: (i) nâng tỷ lệ đầu tư công cho R&D của Việt Nam lên mức tối thiểu 1,5% GDP đến năm 2030 (so với mức dưới 0,5% hiện nay) thì TP.HCM cần tỷ lệ này cao hơn cả nước, tối thiểu 2% GRDP; (ii) thiết lập cơ chế tín dụng cho doanh nghiệp đầu tư vào đổi mới sáng tạo, tương tự như các mô hình tại Hàn Quốc; (iii) triển khai chiến lược dữ liệu quốc gia và phát triển hạ tầng số (5G, điện toán đám mây, nền tảng AI mở) nhằm nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ; (iv) thành lập các quỹ đầu tư mạo hiểm hỗ trợ các doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo
Thứ hai, muốn có sáng tạo và phát minh mới, TP.HCM cần phải có nhiều người có trình độ kiến thức, trình độ cao, tức tạo ra dòng vốn tri thức. Dù hệ thống giáo dục đào tạo nhân lực của Việt Nam nói chung, của TP.HCM nói riêng được hoàn thiện trong các năm gần đây, nhưng, chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng với yêu cầu phát triển. Muốn đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cần đầu tư đào tạo đội ngũ giảng viên có trình độ cao, song song với đầu tư cho cơ sở hạ tầng giáo dục và nghiên cứu. Ngoài ra, chú trọng nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo thông qua gắn kết đào tạo với nhu cầu thực tế của thị trường, cần quan tâm đến việc xây dựng các chương trình đào tạo theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp, tạo điều kiện cho sinh viên, học viên được thực tập, làm việc thực tế tại doanh nghiệp, đặc biệt những ngành liên quan đến bán dẫn, công nghệ cao.. Đối với việc thu hút và trọng dụng nhân tài, cần xây dựng các chính sách ưu đãi, thu hút nhân tài trong và ngoài nước; Có chính sách thu hút các chuyên gia, nhà khoa học, người Việt Nam thành đạt ở nước ngoài về làm việc, cùng với nâng cao chất lượng đào tạo sẽ tạo ra dòng vốn tri thức, đóng góp cho sự phát triển của đất nước. TP.HCM nói riêng, các tỉnh phía Nam nói chung do đặc thù lịch sử là nơi có nhiều tri thức đang sống và làm việc ở nước ngoài, cần tạo môi trường làm việc tốt để thu hút các Việt Kiều tri thức về nước làm việc, nhất là trong các lĩnh vực công nghệ ưu tiên.
Thứ ba, điểm nghẽn cho đầu tư phát triển hiện nay của Việt Nam nói chung và TP.HCM nói riêng vẫn là thể chế. Vậy cần phải thay đổi và cải cách thể chế để giải quyết điểm nghẽn hiện nay như thay đổi các quy định không còn phù hợp, tạo cơ chế đột phá cho phát triển. Xây dựng và hoàn thiện các cơ chế, chính sách để thúc đẩy sự phát triển của thị trường khoa học công nghệ, kết nối cung – cầu công nghệ, và tạo điều kiện cho việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu; Đặc biệt, quan tâm hơn đến việc xây dựng và hoàn thiện các quy định, chính sách, pháp luật về thúc đẩy hợp tác công-tư (PPP) để tạo môi trường pháp lý minh bạch, rõ ràng, thuận lợi cho cả khu vực công và tư nhân tham gia. Trong bối cảnh khoa học công nghệ giữ vai trò then chốt trong nâng cao năng suất, chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh của nền kinh tế, việc thu hút các nguồn lực xã hội đầu tư vào lĩnh vực này ngày càng trở nên cấp thiết. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, đầu tư theo phương thức PPP dù đã được quy định trong Luật PPP và đã được thực hiện nhiều năm qua ở Việt Nam, nhưng lại chưa thực sự phát huy hiệu quả trong trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Nguyên nhân chủ yếu là do thiếu cơ chế pháp lý cho các mô hình hợp tác linh hoạt, các cơ chế ưu đãi, chia sẻ rủi ro phù hợp, chưa tạo được niềm tin cho các nhà đầu tư. Do đó, việc khơi thông điểm nghẽn thể chế, cụ thể thay đổi những quy định không còn phù hợp, đơn giản tối đa quy trình, rút ngắn thủ tục, tinh gọn nội dung cho phù hợp với đặc thù của khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tạo điều kiện triển khai nhanh, linh hoạt, hiệu quả góp phần vào sự tăng trưởng và phát triển bền vững của quốc gia.
Ở cấp địa phương như TP.HCM, trong thời gian chờ đợi những thay đổi thể chế từ chính quyền Trung ương, thành phố hiện đang được thực hiện một số cơ chế đặc thù theo Nghị quyết số 98/2023 của QH trong các lĩnh vực đầu tư. Tuy nhiên, do nhiều lý cơ chế đặc thù theo NQ98 vẫn chưa cải thiện được tình hình, vì vậy TP.HCM cần một cơ chế phân quyền mạnh hơn. Để tiếp tục giữ vững vị thế đầu tàu, hạt nhân trung tâm của vùng, và cả nước TP.HCM cần những thử nghiệm thể chế mới hay còn gọi là “sandbox thể chế”.
Thứ tư, giải pháp thích ứng với các cú sốc từ bên ngoài. Nền kinh tế luôn bị tác động của những bất ổn, đặc biệt bất ổn từ bên ngoài. Như tình hình hiện nay, do chiến tranh Mỹ-Israel-Iran làm cho giá dầu thế giới và trong nước tăng vọt ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và đời sống của người dân. Để ứng phó với cú sốc này, cần xây dựng kịch bản ứng phó xung đột địa chính trị, đảm bảo cung ứng năng lượng và nguyên vật liệu; có biện pháp bình ổn giá hỗ trợ các doanh nghiệp, các chính sách hỗ trợ kịp thời từ Nhà nước. Kinh nghiệm của Việt Nam và TP.HCM vượt qua cú số bên ngoài không phải là ít, vì vậy các bài học trước đây trong công tác điều hành ứng phó với các cú số sẽ là quý giá trong bối cảnh hiện nay.