Doanh nhân Việt Nam từ thức tỉnh đến vươn mình kiến quốc
Nói đến kiến quốc, người ta thường nghĩ đến những công việc trọng đại như xây dựng, củng cố hoặc đổi mới các thiết chế và thể chế quốc gia: Thủ đô, hệ thống hành chính, bộ máy quan chức, lực lượng vũ trang, pháp luật… Những công việc đó sẽ kiến tạo hay gia cố một khung sườn cần thiết cho sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Và gánh vác phần trách nhiệm lớn nhất trong sự nghiệp này là nhà nước, chính quyền, quan chức.
.jpg)
Nói đến kiến quốc, người ta thường nghĩ đến những công việc trọng đại như xây dựng, củng cố hoặc đổi mới các thiết chế và thể chế quốc gia: Thủ đô, hệ thống hành chính, bộ máy quan chức, lực lượng vũ trang, pháp luật… Những công việc đó sẽ kiến tạo hay gia cố một khung sườn cần thiết cho sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Và gánh vác phần trách nhiệm lớn nhất trong sự nghiệp này là nhà nước, chính quyền, quan chức.
Nhưng kiến quốc còn đòi hỏi phải khôi phục, phát triển kinh tế, xây dựng xã hội, làm cho quốc thái, dân an, hướng tới dân giàu, nước mạnh. Và đó là công việc của toàn xã hội, đặc biệt là vai trò không thể thiếu của doanh nhân Việt Nam trong sự nghiệp kiến quốc xưa cũng như nay.

Từ thời Bắc thuộc đến hết thời phong kiến, hoạt động sản xuất và thương mại của Việt Nam đã khá phát triển chứ không phải tự cung tự cấp như nhiều người lầm tưởng. Nhưng trải qua các giai đoạn lịch sử thăng trầm, doanh nhân người Việt vẫn là lực lượng yếu thế trong xã hội và trong so sánh với doanh nhân ngoại kiều, ngoại quốc. Trong thời phong kiến, nghề buôn bán và thương nhân bị coi khinh. Các nghề thủ công nghiệp thì quy mô nhỏ, và các chủ lò xưởng không thể có một vị thế ngang bằng với những người sở hữu các tài nguyên chính yếu của nền kinh tế dựa vào nông nghiệp và ngư nghiệp đương thời.
Chưa hết, một số triều đại thậm chí còn tiến hành những chính sách tai hại như công cuộc cải cách kinh tế của Hồ Quý Ly (1396-1401), chính sách trọng nông ức thương, bế quan toả cảng của thời Sơ Nguyễn (1802-1858)... Bằng cách tập trung các nguồn lực, các tài nguyên vào nhóm xã hội này đồng thời tước bỏ nguồn lực của nhóm xã hội kia, các triều đại đó đã làm gia tăng mâu thuẫn xã hội và tự làm nghèo nội lực của chính mình. Hậu quả là kinh tế suy thoái, dân nghèo, nước yếu…

Thời Pháp thuộc, do các chính sách khai thác thuộc địa của thực dân, doanh nhân người Việt vẫn là kẻ cạnh tranh yếu thế so với doanh nhân ngoại kiều (Pháp, Hoa, Ấn). Nhưng cũng chính trong bối cảnh bất lợi ấy, đối trọng với các kế hoạch khai thác thuộc địa của thực dân, các phong trào Duy Tân - Đông Du (1905-1908), phong trào Minh Tân (1907-1908), phong trào chấn hưng thực nghiệp, chấn hưng thương trường (1919) đã góp phần kích thích, mở đường cho sự hình thành một lực lượng doanh nhân mới: Doanh nhân dân tộc có lòng yêu nước, có ý chí tự cường. Sau khi các cơ sở kinh doanh của phong trào Duy Tân - Đông Du và Minh Tân bị thực dân đóng cửa (trừ Liên Thành Thương quán ở Phan Thiết), từ thập niên 1910 trở đi đã xuất hiện một lực lượng doanh nhân mới trên khắp nước: Lương Văn Can, Trương Văn Bền, Bạch Thái Bưởi, Trần Trinh Trạch, Trịnh Văn Bô, Nguyễn Sơn Hà, Nguyễn Văn Vĩnh…

Trong bối cảnh các nguồn lực, các tài nguyên lớn đều nằm trong tay ngoại nhân, sự thức tỉnh của lực lượng doanh nhân mới này đã làm hình thành những doanh nghiệp dân tộc đầu tiên, cạnh tranh hiệu quả với doanh nghiệp của ngoại nhân, bước đầu đem lại quyền lợi công bằng cho người Việt Nam và sự phú cường cho dân tộc. Bên cạnh các nhân tố khác, lực lượng doanh nhân dân tộc này đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đất nước Việt Nam sang giai đoạn hiện đại hoá, hình thành và phát triển các ngành công nghiệp, thương nghiệp và dịch vụ hiện đại, từ đầu thế kỷ XX đến Thế Chiến thứ II. Và khi kháng chiến chống Pháp nổ ra, nhiều người trong số họ đã không ngần ngại cống hiến trí tuệ và tài sản cho sự nghiệp “kháng chiến, kiến quốc”.
Thời kỳ thức tỉnh thứ hai của doanh nhân Việt Nam diễn ra gần với chúng ta hơn: Thời kỳ đổi mới (1986-1995). Trong thời kỳ này, doanh nhân Việt Nam chỉ bao gồm những doanh nhân, doanh nghiệp tư nhân vừa, nhỏ và rất nhỏ. Trong điều kiện hành lang pháp lý của thời “quản không được thì cấm” chưa thay đổi, tình trạng tham nhũng, đục nước béo cò tràn lan, nhiều hoạt động kinh doanh của doanh nhân thời kỳ này đã thất bại, gây tai tiếng. Nhưng mưa gây ra nấm mốc thì cũng làm cho cây cỏ tốt tươi. Chính hoạt động kinh doanh của doanh nhân Việt Nam thời kỳ này đã góp phần đáng kể vào quá trình phục hồi kinh tế, đưa đất nước vượt qua thời kỳ khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng trước đó, tạo việc làm, nâng cao thu nhập và ngân sách quốc gia. Và nói không ngoa, chính những đóng góp được ghi nhận đó đã góp phần tác động vào sự hình thành các đường lối, chính sách và pháp luật cởi mở, thuận lợi hơn cho sự phát triển và phát huy lực lượng doanh nhân.

Gần nhất với chúng ta là quá trình trưởng thành của lực lượng doanh nhân và sự tăng cường chính sách phát triển đối với doanh nhân trong thời kỳ hội nhập quốc tế (1995-2025). Nhận định về kinh tế tư nhân từ thời kỳ đổi mới đến nay, Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị khẳng định: “Sau gần 40 năm đổi mới, kinh tế tư nhân nước ta đã từng bước phát triển cả về số lượng và chất lượng, trở thành một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Khu vực kinh tế tư nhân hiện có khoảng hơn 940 nghìn doanh nghiệp và hơn 5 triệu hộ kinh doanh đang hoạt động, đóng góp khoảng 50% GDP, hơn 30% tổng thu ngân sách nhà nước và sử dụng khoảng 82% tổng số lao động vào tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, là lực lượng quan trọng thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất lao động, gia tăng năng lực cạnh tranh quốc gia, góp phần xoá đói, giảm nghèo, ổn định đời sống xã hội. Nhiều doanh nghiệp tư nhân đã phát triển lớn mạnh, khẳng định thương hiệu và vươn ra thị trường khu vực, thế giới”.

Bên cạnh đó là lực lượng doanh nhân thuộc khu vực doanh nghiệp nhà nước, cho đến nay vẫn là lực lượng đóng vai trò chủ đạo của nền kinh tế, điều hành các ngành, các cơ sở kinh doanh trọng điểm của quốc gia. Đánh giá về lực lượng này, Nghị quyết số 79-NQ/TW, ngày 6/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước cho rằng: “Sau 80 năm xây dựng và phát triển, đặc biệt sau gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, kinh tế nhà nước luôn giữ vai trò chủ đạo, thực hiện tốt chức năng định hướng, dẫn dắt, điều tiết các hoạt động kinh tế, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô, giữ vững các cân đối lớn của nền kinh tế, bảo đảm quốc phòng, an ninh, thúc đẩy tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao đời sống nhân dân và vị thế Việt Nam trên trường quốc tế”.
Do đâu mà có những đánh giá tích cực ấy về vai trò của doanh nhân Việt Nam? Khác với thời kỳ “thâm dụng lao động” và “xuất thô” trước đây, sự phát triển và ứng dụng rộng rãi công nghệ và trí tuệ đang làm gia tăng tỷ lệ nội địa hoá và giá trị hàng hoá trong các sản phẩm công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ, gia tăng số lượng doanh nghiệp và công ăn việc làm, gia tăng GDP, GRDP, nâng cao thu nhập và mức sống. Năm 2025, Việt Nam đạt tỷ lệ tăng trưởng GDP lên tới 8,02%, với quy mô 514 tỷ USD. Cũng khác với những thời kỳ “đào xúc múc bán” trước đây, sự phát triển các công nghệ xanh, sử dụng hiệu quả và tiết kiệm các tài nguyên, bảo vệ môi trường, mở rộng an sinh xã hội… đang từng bước tạo nền cho một quá trình phát triển cân bằng và bền vững. Sau 20 năm triển khai chương trình “Thương hiệu Quốc gia Việt Nam”, giá trị thương hiệu quốc gia năm 2024 đạt 507 tỷ USD, xếp hạng 32/193 thế giới. Cả nước có 190 doanh nghiệp với 359 sản phẩm đạt Thương hiệu quốc gia trên cả ba tiêu chí chất lượng, đổi mới sáng tạo, và năng lực tiên phong.

Vì vậy, không phải ngẫu nhiên mà khái niệm “Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc” đã xuất hiện và nở rộ trên các diễn đàn từ năm 2024.
Khái niệm đó không phải chỉ là ý chí, là kỳ vọng. Vì sự vươn mình đó dựa trên những xuất phát điểm, những bệ phóng có thật là những thành tựu, những sức mạnh và bản lĩnh vượt khó và tự vượt chính mình của toàn dân tộc, đã thể hiện trong 40 năm đổi mới và 30 năm hội nhập.
Mở đầu kỷ nguyên vươn mình này, chúng ta lại thấy một loạt chuyển động về chính sách hướng tới phát triển và phát huy nguồn lực doanh nhân đã được triển khai. Đó là những quyết sách có tầm chiến lược về cải cách hành chính, về cơ chế chính sách đặc thù phát triển các đầu tàu kinh tế, về đầu tư công, về thu hút đầu tư công nghệ cao, về phát triển kinh tế tư nhân, về đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, công nghệ xanh, về phát triển văn hóa…

Trong số đó, rất đáng chú ý là những đổi mới về chính sách đối với khu vực kinh tế tư nhân, với những hành lang mở rộng hơn và vòng rào thu hẹp bớt. Tương tự là sự đổi mới chính sách đầu tư công với sự tham gia của cả khu vực kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân. Những đổi mới này sẽ tạo động lực để phát triển đầu tư xã hội, phát triển doanh nghiệp tư nhân, tạo nên một người bạn hùng mạnh đồng tiến cùng với doanh nghiệp nhà nước trên dặm trường chinh phục những nấc thang phát triển kinh tế - xã hội cao hơn.
Tất nhiên, như lịch sử đã chứng minh, diễn trình tiến thoái của một nền kinh tế, một quốc gia ra sao còn tuỳ thuộc vào bối cảnh khu vực và thế giới, với những thuận lợi và trở ngại, thời cơ và thách thức không phải dễ dàng dự đoán. Nhưng cho dù thế nào, như chúng ta vẫn nói, may mắn chỉ đến với những ai tạo ra nó hay tìm kiếm nó. Trong cùng một hoàn cảnh, cách thức ứng phó khác nhau sẽ dẫn đến những kết quả khác nhau. Trong bối cảnh nào, tiềm lực giàu mạnh và bản lĩnh vững vàng vẫn là ưu thế, vị thế để lực lượng doanh nhân có thể nắm bắt, khai thác thuận lợi và thời cơ, hạn chế, khắc phục thách thức và trở ngại. Đặc biệt, khi những ưu thế ấy được nâng đỡ, được chắp cánh bởi chính sách và pháp luật phù hợp, thì không có lý do gì để chúng ta không đặt niềm tin vào sự thành công của doanh nhân Việt Nam trong sự nghiệp kinh doanh và kiến quốc hôm nay.
Tác giả: TS. Lý Tùng Hiếu