Cách xác định tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp từ năm 2026
Từ ngày 1/1/2026, việc xác định tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp được thực hiện theo quy định mới tại Nghị định số 374/2025/NĐ-CP do Chính phủ ban hành, hướng dẫn chi tiết một số điều của Luật Việc làm.
Quy định này nhằm bảo đảm việc đóng bảo hiểm thất nghiệp phù hợp hơn với thu nhập thực tế của người lao động và tăng tính minh bạch trong thực hiện chính sách an sinh xã hội.
Theo nghị định, đối với người lao động thuộc diện hưởng tiền lương do Nhà nước quy định, tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp là tiền lương tháng theo chức vụ, chức danh, ngạch, bậc, kèm theo các khoản phụ cấp gồm phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề và hệ số chênh lệch bảo lưu lương (nếu có), theo quy định của pháp luật hiện hành.
Đối với người lao động hưởng tiền lương do người sử dụng lao động quyết định, tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp là tiền lương tháng ghi trong hợp đồng lao động. Mức lương này bao gồm lương theo công việc hoặc chức danh được trả theo thời gian, các khoản phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác được thỏa thuận chi trả thường xuyên, ổn định trong mỗi kỳ trả lương. Trong đó, mức lương theo công việc hoặc chức danh được xây dựng trên cơ sở thang, bảng lương của doanh nghiệp theo quy định tại Bộ luật Lao động.

Các khoản phụ cấp lương được tính làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp là những khoản nhằm bù đắp điều kiện lao động, tính chất phức tạp của công việc, điều kiện sinh hoạt hoặc mức độ thu hút lao động mà tiền lương cơ bản chưa phản ánh đầy đủ.
Những khoản phụ cấp phụ thuộc vào năng suất lao động, quá trình làm việc hoặc chất lượng thực hiện công việc sẽ không được tính. Tương tự, các khoản bổ sung khác chỉ được đưa vào căn cứ đóng khi xác định được mức tiền cụ thể và được trả ổn định, thường xuyên; các khoản mang tính biến động sẽ không thuộc diện tính đóng.
Trong trường hợp người lao động ngừng việc nhưng vẫn được trả tiền lương tháng bằng hoặc cao hơn mức tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp nhất, thì tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp chính là tiền lương được hưởng trong thời gian ngừng việc đó.
Đối với người lao động làm việc không trọn thời gian, nếu tiền lương trong tháng bằng hoặc cao hơn mức tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp nhất theo quy định, thì tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp được xác định theo mức tiền lương thực nhận trong tháng, căn cứ vào thỏa thuận trong hợp đồng lao động. Trường hợp hợp đồng quy định trả lương theo giờ, ngày hoặc tuần, tiền lương tháng được quy đổi tương ứng theo số giờ, số ngày hoặc số tuần làm việc trong tháng.
Tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp đối với người quản lý doanh nghiệp, kiểm soát viên, người đại diện phần vốn của doanh nghiệp; thành viên hội đồng quản trị, tổng giám đốc, giám đốc, thành viên ban kiểm soát hoặc các chức danh quản lý được bầu của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã có hưởng lương, là tiền lương thực tế mà các đối tượng này được hưởng theo quy định của pháp luật.
Nghị định cũng quy định rõ về việc tạm dừng đóng bảo hiểm thất nghiệp. Theo đó, người lao động đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp nhưng bị tạm giam hoặc tạm đình chỉ công việc từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì cả người lao động và người sử dụng lao động được tạm dừng đóng bảo hiểm thất nghiệp trong thời gian này. Trường hợp sau đó người lao động được truy lĩnh đầy đủ tiền lương, hai bên có trách nhiệm đóng bù số tiền bảo hiểm thất nghiệp tương ứng với thời gian đã tạm dừng, đồng thời thực hiện cùng với việc truy đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc.
Việc điều chỉnh cách xác định tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp từ năm 2026 được kỳ vọng sẽ bảo đảm quyền lợi chính đáng của người lao động, đồng thời giúp doanh nghiệp và cơ quan quản lý thực hiện thống nhất, minh bạch chính sách bảo hiểm thất nghiệp trong giai đoạn mới.