Toàn cảnh

Dự báo kinh tế Việt Nam năm 2026: Động lực thúc đẩy mục tiêu tăng trưởng hai con số (Bài 2)

Hưng Khánh 27/01/2026 08:30

LTS: Năm 2025 tăng trưởng ấn tượng với con số 8,02%, kinh tế Việt Nam bước vào năm 2026 trong trạng thái vừa có đà, vừa đối diện nhiều thử thách mới. Tại webinar cùng chủ đề do Tạp chí Doanh Nhân Sài Gòn và Viện Sáng kiến Việt Nam tổ chức, các chuyên gia đã dự báo những chuyển động lớn của kinh tế Việt Nam năm 2026, chỉ ra các cơ hội, rủi ro tiềm ẩn và gợi mở con đường thích ứng cho doanh nghiệp trong giai đoạn chuyển tiếp mang tính cấu trúc…

Mảng sáng quan trọng nhất của kinh tế Việt Nam năm 2026 nằm ở các động lực tăng trưởng vẫn còn hiện hữu, trong đó nổi bật là đầu tư công, xuất khẩu có chọn lọc và dư địa cải cách thể chế gắn với an sinh xã hội…

Cơ hội mở ra trong thế chủ động

Theo ông Nguyễn Xuân Thành, khi nhìn sang năm 2026 có một điểm gần như chắc chắn khi đầu tư công sẽ tiếp tục là động lực tăng trưởng nằm trong “tầm tay” của Nhà nước. Dù tốc độ tăng không còn bứt phá như năm 2025 - thời điểm cuối nhiệm kỳ với áp lực giải ngân rất lớn, có lúc tăng tới 38%, nhưng quy mô tuyệt đối của đầu tư công vẫn ở mức rất cao. Kế hoạch đầu tư công năm 2026 dự kiến tăng khoảng 10,3% so với năm trước, tương đương gần 8% GDP. Đây là một con số không hề nhỏ, đủ để tạo hiệu ứng lan tỏa cho nhiều ngành, từ xây dựng, vật liệu, logistics cho đến dịch vụ liên quan.

Ông Nguyễn Xuân Thành - Giảng viên cao cấp, Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright
Ông Nguyễn Xuân Thành

Quan trọng hơn, theo ông Nguyễn Xuân Thành, đầu tư công không chỉ là câu chuyện của riêng một năm. Với quy mô và cách phân bổ hiện nay, động lực này có thể kéo dài ít nhất đến năm 2030 nếu được triển khai đồng bộ và hiệu quả. Trong bối cảnh các động lực bên ngoài suy yếu, việc Nhà nước chủ động dẫn dắt tăng trưởng thông qua đầu tư công trở thành “trụ đỡ” quan trọng, giúp nền kinh tế tránh những cú hụt đột ngột.

Cùng với đầu tư công, xuất khẩu dù đối mặt nhiều thách thức vẫn mở ra những cơ hội đáng kể nếu Việt Nam giữ được vị thế chiến lược trong chuỗi thương mại khu vực. Ông Nguyễn Xuân Thành cho biết Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu năm 2026 trên 8% so với năm 2025. Trong bối cảnh toàn cầu hiện nay, đây là một mục tiêu khá lạc quan.

Điểm then chốt nằm ở cơ cấu thị trường. Trong khi xuất khẩu sang Mỹ khó tránh khỏi suy giảm do tiêu dùng Mỹ thắt chặt thì xuất khẩu sang Trung Quốc và các thị trường khác vẫn còn dư địa. Năm 2025, xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc tăng tới 14,2%, dù kinh tế Trung Quốc và sức mua nội địa nước này đều không ở trạng thái tốt. Theo ông Nguyễn Xuân Thành, kết quả này phản ánh một lựa chọn chính sách rất rõ ràng của Việt Nam: Kiên định thực hiện các cam kết thương mại tự do, chấp nhận một mức độ “hy sinh” nhất định khi để hàng Trung Quốc thâm nhập thị trường trong nước, đổi lại là giữ được cánh cửa xuất khẩu sang thị trường láng giềng khổng lồ.

“Trong bối cảnh nhiều quốc gia ASEAN dựng thêm hàng rào kỹ thuật để ngăn hàng Trung Quốc, cách tiếp cận của Việt Nam giúp duy trì được dòng chảy thương mại hai chiều. Nếu chính sách này tiếp tục được giữ vững, Việt Nam hoàn toàn có khả năng duy trì, thậm chí cải thiện tốc độ tăng trưởng xuất khẩu sang Trung Quốc, qua đó bù đắp cho sự suy giảm ở thị trường Mỹ”, ông Thành đưa ra nhận định.

Một động lực tiềm tàng khác, theo ông Nguyễn Xuân Thành nằm ở tiêu dùng trong nước dù đây cũng là khu vực chứa đựng nhiều rủi ro. Về mặt tích cực, tiêu dùng có thể được hỗ trợ bởi tăng trưởng việc làm và thu nhập, đặc biệt là trong các khu công nghiệp, khu vực dịch vụ gắn với du lịch và nhóm trung lưu bậc trên. Khi giá bất động sản tăng, những người đã sở hữu tài sản có xu hướng cảm nhận “hiệu ứng giàu lên”, từ đó sẵn sàng chi tiêu nhiều hơn. Bên cạnh đó, mức tiết kiệm cao trong thời kỳ Covid-19 về cơ bản đã được bù đắp, tạo thêm dư địa cho tiêu dùng.

Năm 2026 sẽ rất rủi ro nếu Việt Nam tiếp tục điều hành theo kiểu “phơi phới” như năm 2025, tức là theo đuổi tăng trưởng cao bằng mọi giá.

Ông Nguyễn Xuân Thành

Đáng chú ý hơn, yếu tố cải cách thể chế và thông điệp chính sách gần đây được ông Nguyễn Xuân Thành đánh giá là có thể tạo ra cú hích mạnh cho niềm tin tiêu dùng, nếu được hiện thực hóa bằng hành động cụ thể. Việc Nhà nước tăng chi cho phúc lợi xã hội, như miễn học phí, mở rộng phạm vi hưởng bảo hiểm y tế… không chỉ mang ý nghĩa an sinh mà còn trực tiếp giải phóng tâm lý “phòng thủ” của người dân. Ông dẫn lại bài học của Trung Quốc, nếu không mở rộng phúc lợi xã hội khiến người dân tích trữ thay vì chi tiêu sẽ kéo dài tình trạng cầu yếu. Nếu Việt Nam gắn được tăng trưởng kinh tế thị trường với bảo đảm an sinh xã hội, đó không chỉ là đúng với bản chất của mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mà còn là động lực quan trọng cho tăng trưởng bền vững.

Ở tầm dài hạn hơn, PGS-TS. Trần Đình Thiên cho rằng dư địa chính sách tài khóa của Việt Nam vẫn còn khá tốt, với tỷ lệ nợ công chỉ khoảng 35% GDP. Đây là lợi thế hiếm có trong khu vực, cho phép Việt Nam chủ động hơn trong việc đầu tư cho hạ tầng, khoa học - công nghệ và các lĩnh vực nền tảng của tăng trưởng dài hạn. Ông đặc biệt nhấn mạnh bước đột phá trong chi cho khoa học - công nghệ, khi tỷ lệ này có thể tăng từ mức 0,5-0,6% GDP lên khoảng 3%. Nếu được sử dụng hiệu quả, đây sẽ là nền tảng quan trọng để nâng cấp mô hình tăng trưởng thay vì chỉ dựa vào vốn và lao động giá rẻ.

T16 Trong khi xuất khẩu sang Mỹ khó tránh khỏi suy giảm do tiêu dùng Mỹ thắt chặt thì xuất khẩu sang Trung Quốc và các thị trường khác vẫn còn dư địa
Trong khi xuất khẩu sang Mỹ khó tránh khỏi suy giảm do tiêu dùng Mỹ thắt chặt thì xuất khẩu sang Trung Quốc và các thị trường khác vẫn còn dư địa

Không ít những thách thức

Tuy nhiên, song song với các cơ hội đó, theo các chuyên gia bức tranh kinh tế 2026 cũng sẽ chứng kiến những thách thức rất lớn, đặc biệt là rủi ro vĩ mô, bất ổn bên ngoài và bài toán điều hành chính sách trong nước.

Theo ông Nguyễn Xuân Thành, lạm phát dù thường được nhắc đến như mối lo lớn thực tế không phải là rủi ro nghiêm trọng nhất trong giai đoạn tới. Thách thức thực sự nằm ở tỷ giá và dự trữ ngoại hối. Dù đồng USD đã giảm giá gần 10% theo bình quân trọng số, đồng Việt Nam vẫn mất giá tương đối mạnh so với USD, trong bối cảnh dự trữ ngoại hối ở mức thấp. Với kim ngạch nhập khẩu bình quân khoảng 44 tỷ USD mỗi tháng, dự trữ ngoại hối hiện nay thậm chí chưa đủ cho hai tháng nhập khẩu. Theo ông Nguyễn Xuân Thành, chưa thấy “cửa” rõ ràng để gia tăng dự trữ ngoại hối trong năm 2026 và áp lực mất giá của đồng tiền có thể kéo dài sang năm tới.

Trong bối cảnh đó, cách điều hành chính sách vĩ mô trở thành yếu tố then chốt. Ông Nguyễn Xuân Thành cảnh báo rằng năm 2026 sẽ rất rủi ro nếu Việt Nam tiếp tục điều hành theo kiểu “phơi phới” như năm 2025, tức là theo đuổi tăng trưởng cao bằng mọi giá. Ngược lại, nếu kiên định với thông điệp của Ngân hàng Nhà nước: Vẫn hỗ trợ tăng trưởng nhưng giảm mức độ nới lỏng, nền kinh tế sẽ tránh được mất cân đối nghiêm trọng. Những chỉ dấu cần theo dõi nằm ở tăng trưởng tín dụng trong quý I, việc tuân thủ room tín dụng của các ngân hàng cũng như kiểm soát tín dụng bất động sản. Trong kịch bản thận trọng, đồng Việt Nam có thể chỉ mất giá khoảng 2%; trong kịch bản xấu hơn, mức mất giá có thể lên tới 4%.

Ông Trần Ngọc Anh, Giáo sư Đại học Indiana
GS. Trần Ngọc Anh

Ở góc nhìn quốc tế, GS. Trần Ngọc Anh bổ sung thêm một tầng bất định khác đến từ kinh tế Mỹ. Dù các chỉ số tài chính và tăng trưởng GDP Mỹ vẫn tích cực, tiêu dùng thực tế lại tập trung vào một nhóm rất hẹp chủ yếu là tầng lớp giàu và siêu giàu. Điều này buộc hàng hóa Việt Nam phải tái định vị nếu muốn tiếp cận phân khúc còn dư địa chi tiêu, trong khi phần lớn người tiêu dùng Mỹ đang thắt chặt hầu bao.

Đáng chú ý, những diễn biến gần đây liên quan đến Chủ tịch Fed Jerome Powell và áp lực chính trị đối với tính độc lập của chính sách tiền tệ Mỹ làm gia tăng khả năng lãi suất USD duy trì ở mức cao lâu hơn dự kiến. Kịch bản này tạo ra thế “lưỡng nan” cho Việt Nam: Đồng tiền yếu hơn có thể hỗ trợ xuất khẩu, nhưng lãi suất cao làm suy giảm tiêu dùng Mỹ và tăng chi phí nhập khẩu đầu vào, trong khi Ngân hàng Nhà nước khó hạ lãi suất sâu mà không gây mất cân đối vĩ mô.

Đọc tiếp Bài 3: Doanh nghiệp Việt trước cơ hội tái định vị

Hưng Khánh