Thách thức pháp lý và giải pháp bảo hộ tác phẩm từ AI

Công nghệ - Ngày đăng : 01:57, 30/06/2022

Trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence - AI) đang ngày càng được sử dụng trong nhiều ngành công nghiệp khác nhau và tác động đến hầu hết khía cạnh của việc sáng tạo.

Sự sẵn có của một lượng lớn dữ liệu và khả năng tính toán cao với giá cả phải chăng đang thúc đẩy sự phát triển của AI. Do đó, AI được xem là động lực cho sự phát triển kinh tế cả trên thế giới và Việt Nam. Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích thì AI cũng mang lại một số thách thức về pháp lý và xã hội khi hầu hết nguyên tắc pháp lý hiện nay mới chỉ xoay quanh chủ thể là "con người tự nhiên" (natural person).

Phần 2 của bài viết sẽ làm rõ những thách thức pháp lý và giải pháp xây dựng một hệ thống pháp luật nhằm bảo hộ các sản phẩm được tạo ra từ những chương trình máy tính này.

Thực trạng và thách thức pháp lý đối với việc bảo hộ tác phẩm từ AI tại Việt Nam 

Tại Việt Nam, AI đã bắt đầu được phát triển và ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, điển hình như AI sáng tác được 10 giai điệu nhạc/giây của kỹ sư IT Nguyễn Hoàng Bảo Đại, AI nhận diện khuôn mặt trong kiểm soát dịch Covid-19, hay AI phát hiện Covid-19 thông qua tiếng ho... Hiểu được tầm quan trọng của xu hướng mới này, Chính phủ Việt Nam đã nhận định AI sẽ là công nghệ có tính đột phá trong 10 năm tới; đồng thời đây sẽ là "mũi nhọn" cần được nghiên cứu nhằm tận dụng những cơ hội mà cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 mang lại. 

Để sử dụng tốt những lợi thế mà AI mang lại cho sự phát triển của nền kinh tế số, thì việc dự báo những thách thức pháp lý cũng như đề ra một số giải pháp nhằm giải quyết các vấn đề trên là điều tất yếu phải làm. Vì dù muốn hay không, AI vẫn đang trở thành một phần không thể thiếu của cuộc sống con người trong kỷ nguyên số, đặc biệt là khi AI hoàn toàn có khả năng tự suy nghĩ, tự sáng tạo ra các tác phẩm riêng, cũng như có khả năng gây ra những thiệt hại mà đôi khi cả người sử dụng, lập trình viên hay chủ đầu tư không thể lường trước được.

Bên cạnh những tác động tích cực và chính sách ưu tiên phát triển AI, thì những tác động tiêu cực của AI cũng xuất hiện theo. Bởi lẽ AI không phải là con người tự nhiên, dù AI cũng có những "suy nghĩ” theo các thông số đã được lập trình sẵn và cập nhật dữ liệu liên tục, nhanh chóng. Vì thế sẽ xuất hiện một số thách thức về mặt pháp lý đối với việc bảo hộ tác phẩm được tạo ra từ AI, đây chính là vấn đề mà những nhà nghiên cứu, nhà lập pháp phải nghiêm túc xem xét.

Dù hiện nay ngành CNTT, IoT tại Việt Nam đang trên đà phát triển như vũ bão, nhưng hệ thống pháp lý vẫn chưa tiếp cận rõ ràng cho AI hay những thực thể mang AI. Việc này tiềm ẩn rủi ro trong quá trình ban hành và áp dụng pháp luật nhằm điều chỉnh nhóm đối tượng trên. Pháp luật dân sự ở Việt Nam quy định chủ thể phải là cá nhân hoặc tổ chức (BLDS 2015), chưa ghi nhận dạng chủ thể là máy móc hay chương trình máy tính, do vậy sẽ là không thể nếu xác định tư cách pháp lý của AI cũng như những thực thể mang AI là những chủ thể trong pháp luật, có quyền như một con người. 

Theo xu hướng chung của nhiều quốc gia trên thế giới, phương án phù hợp với Việt Nam khi xây dựng hệ thống pháp lý liên quan đến AI nên là: không cố gắng xác định tư cách pháp lý của AI, mà tập trung vào định nghĩa AI, bản chất của những thực thể mang AI là gì, từ đó mới ra những quy định phù hợp với từng nhóm đối tượng.

-4712-1656053600.jpg

Một số giải pháp đối với việc bảo hộ các tác phẩm được tạo ra từ AI

Để tận dụng được những lợi thế do AI mang lại thì việc dự báo những thách thức pháp lý cũng như đề ra những giải pháp là điều tất yếu phải làm. Tôi có vài khuyến nghị như sau:

Thứ nhất là pháp luật về sở hữu trí tuệ (SHTT) hiện hành mới chỉ quy định bảo hộ những tác phẩm mang tính chất truyền thống, theo tiêu chuẩn cũ, tức là chỉ thừa nhận tác giả là một con người thực tế. Tuy nhiên, một số sản phẩm được AI tạo ra vẫn đang đáp ứng điều kiện là một tác phẩm sáng tạo theo quy định của Luật SHTT và thuộc danh mục những tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả. Chính vì vậy, các nhà lập pháp nên xây dựng những ngoại lệ riêng nhằm công nhận sự bảo hộ đối với các tác phẩm được tạo ra từ AI này, giống như quan điểm của Vương Quốc Anh trong Đạo luật Bản quyền, Kiểu dáng và Bằng sáng chế năm 1988 (CDPA).

Thứ hai là xác định tư cách pháp lý của AI. Trước tiên, cần làm rõ tư cách pháp lý của AI và của con người là độc lập và khác nhau, nên việc cố ý sắp xếp cho AI ngang bằng với con người là điều không thể. Dưới khía cạnh xã hội, AI không thể học tập và hành xử theo bộ phẩm chất đạo đức như con người được. Hơn nữa, việc áp dụng các nguyên tắc hay trách nhiệm pháp lý với đối tượng AI là điều không thể. Ví dụ như trong các trường hợp mà AI vi phạm pháp luật hiện hành về bản quyền, hành chính, hình sự... thì Nhà nước và chủ thể khác trong xã hội sẽ phản ứng như thế nào, áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm ra sao? Do đó, tôi kiến nghị thiết lập bộ tiêu chuẩn đánh giá và phân loại AI, từ đó mới đưa ra các quy định cụ thể.

Thứ ba là xác định tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả đối với những tác phẩm được tạo ra từ AI. Hiện tại, AI chỉ được xem là công cụ hỗ trợ con người (người sử dụng) trong việc sáng tác ra các tác phẩm, dù phần lớn AI đã tự chủ trong hoạt động này mà không cần sự can thiệp của con người. Ngoài ra, còn có vai trò của lập trình viên (người đã thiết lập thuật toán tạo ra AI) và chủ đầu tư (cá nhân, doanh nghiệp đầu tư tiền bạc cho các dự án về AI).

Thứ tư là thiết lập các cơ chế để giải quyết những tranh chấp về quyền tác giả đối với các tác phẩm thuộc loại này. Bên cạnh việc thiết lập hệ thống pháp luật đặc thù dành riêng cho AI, thì việc xây dựng các quy định nhằm xử lý các tranh chấp liên quan đến việc xâm phạm quyền SHTT cũng là một mục tiêu quan trọng. Việc xác định một tác phẩm văn chương có xâm phạm quyền tác giả của một tác phẩm đang được bảo hộ hay không là một việc rất khó, không thể quy định bằng một con số cụ thể trong luật hay bất cứ văn bản nào về tỷ lệ trích dẫn. Trong trường hợp "trích dẫn hợp lý” chỉ được xem xét về tính đúng sai trong mỗi tình huống cụ thể, nên sẽ là một khó khăn lớn khi áp dụng đối với các tác phẩm được tạo ra từ AI. Vì chủ yếu quá trình sáng tạo của AI phải dựa vào dữ liệu đầu vào mà nhà vận hành, người sử dụng cung cấp. 

Thứ năm là thiết lập hệ thống pháp lý về việc bồi thường thiệt hại do AI gây nên. Dù AI không phải là con người thực tế, dù lập trình viên luôn lập luận rằng họ viết ra các thuật toán ngẫu nhiên nhằm hạn chế sự sao chép của AI, dù người sử dụng đưa ra lý lẽ rằng việc họ cho chạy các chương trình máy tính là phục vụ cho nhu cầu cá nhân, nhưng các hành vi xâm hại các quan hệ pháp luật về SHTT hay dân sự vẫn có thể xảy ra.

Điển hình như các hành vi xâm phạm bản quyền của các tác giả khác (vì cơ chế hoạt động của AI là học máy, học từ những dữ liệu đầu vào, nên người cung cấp dữ liệu gửi dữ liệu gì vào, AI sẽ học theo như thế; dữ liệu càng ít, khả năng đạo văn sẽ càng cao). Hoặc vì AI là chương trình máy tính (thể hiện qua các thực thể hữu hình khác), nên những sản phẩm của AI hoàn toàn có thể xâm hại đến những chuẩn mực đạo đức xã hội do con người lập ra (như có những câu văn, lời nói xúc phạm nhân phẩm người khác...). Do đó, việc thiết lập hệ thống các quy tắc pháp lý để điều chỉnh vấn đề bồi thường thiệt hại do AI gây ra là rất cấp thiết và quan trọng. 

(*) Khoa Luật, Trường Kinh tế, Luật và Quản lý nhà nước UEH

Nguyễn Thùy Dung (*)